Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Một số tư liệu về cuộc chiến Việt - Mỹ


Trích dẫn từ http://my.opera.com/thieulongtexas/blog/
Số liệu:
Tại Việt Nam năm 1954, Pháp chưa đi - Mỹ đã đến.
Trải qua 177 chiến dịch, bao gồm 130 chiến dịch trên bộ, 34 chiến dịch trên không, và 13 chiến dịch trên biển, Chiến tranh Việt Nam (cách gọi theo góc nhìn Mỹ), trở thành cuộc chiến đầu tiên và đang là duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ mà người Mỹ đã thua.Thường trong các cuộc chiến tranh, phe tấn công xâm lược hầu như không bao giờ thừa nhận chiến bại (đặc biệt là Trung Quốc mấy ngàn năm nay). Nhưng đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam thì gần như tất cả nhà sử học, nhà quân sự, nhà lãnh đạo, chính trị gia Hoa Kỳ và quốc tế, bao gồm 5 đời tổng thống Mỹ, Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara, ngoại trưởng Henry Kissinger v.v. đều nhìn nhận là Mỹ đã thua cuộc chiến này.Chỉ có 1 người luôn khăng khăng không dám chấp nhận sự thật rằng Mỹ đã chiến bại, đó là đại tướng William Westmoreland, tổng tư lệnh liên quân ở Việt Nam.
Theo danh sách đang cập nhật, bổ sung của Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, và Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, tài liệu của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương thì tổng thương vong của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam là 365.157 quân.

Trong số hơn 36 vạn quân Mỹ thương vong, có 58.168 lính chết trong lúc giao tranh (kill in action). Bản danh sách đầu tiên năm 1982 là gồm 57.939 người, và 1.875 người vẫn còn mất tích (tính đến năm 2004).

Trong số 58.168 người Mỹ tử trận, có 7.878 sĩ quan. Trong số sĩ quan chết trận, có 426 tư lệnh và sĩ quan chỉ huy. Trong số đó có 37 người cấp tướng. Sự tổn thất to lớn của Mỹ ở Việt Nam đã vượt Thế chiến I và chiến tranh Triều Tiên.

Có hơn 6 triệu người Mỹ sinh hoạt, hoạt động ở Việt Nam. Trong số những người Mỹ đó có 2.709.918 người mặc đồng phục (in uniform) hoặc/và phục vụ khu vực giao tranh. Trong số những người đó có khoảng 55-60 vạn binh lính phục vụ cho chính phủ Mỹ ở Việt Nam. Tổng số cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam chiếm 9,7% cả thế hệ của họ....
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ đã huy động hàng triệu người Mỹ, trong đó có 4.649.000 người dưới 20 tuổi, khoảng 40% các nhà khoa học vật lý, 260 trường đại học, khoảng 22.000 xí nghiệp lớn với khoảng 5,5 triệu công nhân phục vụ cuộc chiến. Hơn 6 triệu người Mỹ sinh sống và sinh hoạt trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam, hậu quả là gần nửa triệu con lai Mỹ ra đời, nhiều người trong đó không biết rõ cha mình là ai, nhiều người phải sống trong các cô nhi viện cả trong và sau cuộc chiến.

Riêng năm 1968, mỗi ngày Mỹ chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên đến khoảng 100 triệu USD, gấp 10 lần chi phí cho cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ trong thời gian đó. Riêng những hậu quả về con người: Tính từ giữa năm 1961 đến năm 1974, đã có tổng số 57.259 người Mỹ đã tử trận ở Việt Nam. Nếu tính theo toàn bộ thời gian cuộc chiến, từ năm 1954 đến 1975 thì có tổng số 58.168 người Mỹ đã chết ở Việt Nam. Tháng 11 năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ đã khánh thành Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam để tưởng niệm những công dân Mỹ đã chết ở Việt Nam, bản danh sách ban đầu gồm 57.939 người, trong đó có 37 cấp tướng.
1. Tố cộng:
Tại Quảng Trị, ngụy quyền chuẩn bị một bản danh sách "tội ác cộng sản" rồi bắt ông Lê Chí Khiêm trong ban trị sự hội Phật học lên đọc. Trước khi đọc ông nói: "Bản này không phải tự tay tôi viết ra, mà nói đây la tộc ác của cộng sản thì chính tôi chưa bao giờ nghe và chưa bao giờ thấy, nhưng người ta viết ra bảo tôi đọc thì tôi xin đọc để bà con nghe".

Hình tượng hơn là chuyện ở Phan Rí (Bình Thuận). Khi một quận trưởng muốn mị dân, cho tổ chức một cuộc tranh luận giữa ông ta với người dân địa phương về những cái tốt và cái xấu giữa phía kháng chiến và phía Mỹ-Diệm, ông Bộ Gạch người dân tộc Chăm đã đứng lên nói một điều không nằm trong các giáo trình tâm lý chiến mà người quận trưởng đã chuẩn bị từ trước: "Các ông có chín cái tốt và một cái xấu, còn cộng sản có chín cái xấu và một cái tốt. Các ông cái gì cũng tốt nhưng ở với dân xấu quá. Cộng sản cái gì cũng xấu nhưng ở với dân quá tốt. Các ông có làm gì đi nữa, lòng dân vẫn theo cộng sản và cuối cùng cộng sản vẫn thắng."

Trong một đêm Tố Cộng ở Chợ Lớn, một ông cụ đã nói: "Việt Cộng có nhiều cái xấu: Súng xấu, đạn xấu, quần áo xấu, chỉ có cái tốt là trong kháng chiến hồi đánh Tây đã sống chết để bảo vệ dân. Các ông thì có nhiều cái tốt: Súng tốt, xe cộ tốt, quần áo tốt, chỉ có cái xấu là giật của dân thôi".

Người dân còn đặt nhiều câu hỏi làm cho những kẻ chỉ đạo các cuộc Tố Cộng ấp úng khó trả lời như: "Các ông nói cộng sản độc tài, nhưng chúng tôi không thấy cộng sản độc tài vì trong kháng chiến cộng sản kêu gọi đánh Tây giành độc lập mới có hòa bình, dân đói họ kêu gọi sản xuất để được no ấm.", "Các ông nói cộng sản 'cướp công kháng chiến', nhưng lúc đánh Tây, các ông ở đâu, sao toàn thấy cộng sản?", "Nói quốc gia kháng chiến sao lại đi làm cho Tây?".
2. "Thảm sát ở Huế"
Sau trận chiến 25 ngày, Mỹ-ngụy trong một sự kiện ở Huế mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân và nhiều cư dân Huế gọi là sự kiện "Hậu Mậu Thân" đã lùng sục trả thù, giết hại. Người dân Huế nào có thiện cảm, có giúp đỡ Mặt Trận dù chỉ là vài lon gạo, vài đồng tiền dành dụm, hay cả nhà có 1 người nào đó theo cách mạng, đều bị đem ra trả thù, hành quyết. Họ đã tẩy trắng Huế bằng bom đạn trong nỗ lực chiếm lại thành phố. Và sau khi đã chiếm lại thì họ ngăn chặn phóng viên vào tác nghiệp, đồng thời mở cuộc tổng trả thù quy mô lớn.

Một nhân chứng ở Huế, chị Nguyễn Thị Hoa khi trả lời phỏng vấn trong phần 7 của loạt phim tài liệu 13 phần Vietnam: A Television History (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình), do đài PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne-2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành, đã cho biết: "Bắt đầu là chúng nó (Mỹ) dùng phi pháo. Chúng dội pháo vào khu vực chúng tôi sinh sống, san bằng nhà cửa, cây cối. Chúng bắn pháo vào nhà những khu vực quanh đó. Những nhà này bán xăng dầu nên khi pháo bắn thì cháy trụi. Tất cả người già, trẻ nhỏ, phụ nữ lánh nạn ở đây đều bị thiêu sống."

Sau đó, Mỹ-ngụy gom lại xác những nạn nhân chiến tranh lại, trong đó phần lớn là những người dân bị chết bởi bom đạn Mỹ, những người dân bị chính họ tàn sát trả thù, những thi thể chiến binh Giải phóng và lính ngụy, cũng như những cộng sự của Mỹ, gom lại hết, rồi quay phim và chụp hình tuyên truyền giả dối đó là "nạn nhân thảm sát của Việt Cộng", thậm chí sau đó một số kẻ viết thuê ở Sài Gòn còn nâng lên thành "hành quyết", "chôn sống", con số thì có những bài báo phóng đại lên đến "hàng triệu".

Sau khi chiếm Huế, Mỹ-ngụy phong tỏa khu vực, ngăn cấm tất cả phóng viên nào muốn vào Huế kiểm chứng các "hố chôn tập thể". Sau khi đã dàn dựng xong, họ mới cho các phóng viên báo chí ngụy quyền, hoặc chống cộng, hữu khuynh vào đưa tin, làm phóng sự về "tội ác Việt Cộng", rồi sau đó mới hoàn toàn cho phép các phóng viên quốc tế, trung lập vào tác nghiệp.

Nhà văn Trần Thị Thu Vân (Nhã Ca) sau đó được chỉ đạo viết tiểu thuyết "Giải khăn sô cho Huế" theo phong cách tự truyện, một dạng "hồi ký ma" được hư cấu từ trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn tâm lý chiến chuyên nghiệp lĩnh lương Mỹ để tuyên truyền bôi nhọ lực lượng kháng chiến.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý này tuy đã thành công lừa gạt được một bộ nhận nhỏ, nhưng không lừa dối được nhiều người Việt Nam và người dân thế giới, bởi vì:

Chỉ nói suông, không bằng chứng, không có hình chụp, thước phim nào có những người lính Giải phóng trong đó. Trong tất cả các hình ảnh về tội ác chiến tranh ở Việt Nam thì những bức ảnh lính Mỹ-ngụy gây tội ác nào mà có lính Mỹ-ngụy trong đó thì được công nhận là tội ác Mỹ-ngụy. Còn những bức ảnh không có lính Mỹ-ngụy trong đó thì bị các cơ quan tâm lý chiến tuyên truyền thành "tội ác cộng sản". Tất cả các bức ảnh được giới tâm lý chiến Sài Gòn và các thế lực chống cộng tuyên truyền xưa nay đều không có bất kỳ 1 hình nào có người lính Giải phóng trong đó, chỉ thấy nạn nhân cùng những lời bình chụp mũ, gán tội vô căn cứ, không bằng không chứng và giấu đi ai là kẻ thủ ác thật sự.
Không hợp thường lý và không có tiền lệ. Quân Giải phóng sống trong dân, sống nhờ vào dân, được dân nuôi giấu, che chở, thảm sát dân chính là tự sát, là tự tuyệt đường sống của quân mình.
Trái ngược với luật pháp Việt Nam, các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước, hay các tuyên thệ, quân luật, cách làm, các hành động lâu nay của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến lược của Việt Nam là chiến tranh nhân dân, với phương châm "quân với dân như cá với nước". Mỹ-ngụy đã phải xây các trại tập trung như Ấp chiến lược để gom dân, dồn dân vào đó để tách dân ra khỏi quân, "tát nước bắt cá". Các chỉ thị từ trên xuống quân đội thường xuyên nhấn mạnh "phải dựa vào dân". Vì vậy những hành động gây tai tiếng, làm xấu hình ảnh trước nhân dân và dư luận quốc tế là không hợp lý. Thực tế trước và sau chiến dịch Mậu Thân thì sự ủng hộ của người dân đối với cách mạng vẫn vậy không lay chuyển.
Không phù hợp với các bằng chứng hay những lời kể từ các nhân chứng ở hiện trường, cũng như không được nhiều người trên thế giới tin tưởng, đề tài này không được các học giả xem là một đề tài nghiêm túc để đưa vào các tác phẩm, công trình nghiên cứu của họ. Nói chung thông tin này không phù hợp với các nguồn tin, sách báo, tài liệu quốc tế.
Xưa nay có nhiều phóng viên chiến trường như David Duncan, Robert Shaplen, nhà báo, nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud, nhân viên Bộ quốc phòng Hoa Kỳ Townsend Hoopes và các nhà nghiên cứu độc lập như tiến sĩ Noam Chomsky, nhà kinh tế học Edward Herman, giáo sư tiến sĩ Gerath Porter, tiến sĩ Alje Vennema, sử gia Stanley Karnow, cựu phóng viên Bưu báo Washington (Washington Post) Don Lux, giáo sư sử học Larry Berman v.v. đều đã góp phần vạch trần chiến dịch thông tin bôi nhọ này của Mỹ-ngụy.

Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận
Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên đến gần 60 vạn quân. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm, nông thôn và đô thị, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên.... Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các chuyên gia chính trị - quân sự - khoa học, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với Việt Nam.

Số bom đạn quân đội Mỹ dùng để tàn phá Việt Nam là 7.822.547 tấn, gần gấp 3 lần bom Mỹ dùng trong Thế chiến II, hơn gấp 10 lần chiến tranh Triều Tiên, gấp 47 lần số bom Mỹ ném xuống Nhật Bản.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược này, Mỹ đã sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật quân sự mới nhất. Các vũ khí và phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất luôn được đem vào sử dụng trên chiến trường Việt Nam (trừ vũ khí hạt nhân), như máy bay B-52, máy bay F-111, các loại trinh sát cơ động cao hỏa lực mạnh, các loại phương tiện gây nhiễu và chống nhiễu, các loại bom chùm, bom bi, bom napan, chất độc hóa học....

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa bao giờ và chưa có nơi nào trên trái đất đã diễn ra một cuộc tàn sát, hủy diệt kéo dài với quy mô rộng lớn trên một diện tích nhỏ hẹp như cuộc chiến tranh Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Với việc sử dụng không hạn chế bom đạn, chất độc hoá học và những vũ khí hủy diệt hàng loạt, Mỹ đã đánh vào đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa của dân tộc Việt Nam, tiêu diệt môi trường sống của sinh vật trên đất nước Việt Nam.
Một số thông tin khác liên quan đến tội ác quân đội Hoa Kỳ khi giải mật hồ sơ những vụ thảm sát tại Việt Nam, theo báo Los Angeles Times, Baltimore Sun ở Mỹ, Cơ quan Lưu trữ Hồ sơ và Tài liệu Quốc gia (NARA) của Hoa Kỳ đã có hơn 9.000 trang tư liệu, hồ sơ cung cấp chi tiết về 320 cuộc thảm sát lớn nhỏ đã được cơ quan điều tra của quân đội Mỹ xác minh và có những bằng chứng cụ thể. Nhưng trong 320 cuộc thảm sát này lại không có Thảm sát làng Sơn Mỹ, cuộc thảm sát ghê rợn và chấn động quốc tế, cho thấy còn rất nhiều tội ác thảm sát, trong đó có những vụ thảm sát tương đương mức độ như thảm sát Sơn Mỹ của quân đội Mỹ tại VN mà chưa được ghi nhận đầy đủ, những hồ sơ còn nhiều thiếu sót, còn nhiều cuộc thảm sát không được đưa vào hồ sơ, hoặc bị che giấu bưng bít thành công.

Các vụ việc còn lưu giữ trong hồ sơ NARA có thể kể đến: Bảy vụ thảm sát lớn từ 1967 đến 1971, mỗi vụ có ít nhất 137 người dân bị giết, 78 vụ thảm sát khác vào những người dân thường, mỗi vụ có ít nhất 57 người bị giết và 56 người bị gây thương tật, 15 vụ hãm hiếp hàng loạt, hiếp trước giết sau, 141 vụ tra tấn vô nhân đạo vào thường dân hoặc tù binh chiến tranh.
Một số ngộ nhận thường thấy trong cuộc chiến

Phần này không nói tới những ngộ nhận ấu trĩ, cực đoan và có tính chất điên rồ như "nội chiến Nam Bắc tương tàn", "Mỹ không xâm lược", "vai trò Trung - Xô với Hoa Kỳ là như nhau, ngang nhau", "Việt Cộng kéo quân đến đâu là người dân bỏ chạy đến đó", "Tội ác cộng sản", "Mỹ-ngụy không ác, tại sơ ý trong chiến tranh thôi", "chất độc da cam là vô hại", "miền Bắc cưỡng chiếm và xâm lăng miền Nam" v.v. tồn tại trong đầu óc của một bộ phận nhỏ mà nhiều người khác đã lên án. Phần này chỉ nói về những ngộ nhận thấy nhiều ở cả những người đàng hoàng tử tế.

Ngộ nhận: Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 căng thẳng, dữ dội cho quân đội Hoa Kỳ hơn Chiến tranh Việt Nam.

Thực tế: Đối với quân đội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam căng thẳng hơn Thế chiến II. Trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương (thuộc Thế chiến II) tốn khoảng 40 ngày chiến đấu trong 4 năm. Nhưng trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tốn khoảng 240 ngày chiến đấu trong 1 năm nhờ chiến thuật Trực thăng vận.

Ngộ nhận: Hiệp định Genève 1954 quy định chia cắt đất nước Việt Nam ra thành 2 quốc gia khác biệt. Câu cửa miệng thường nghe từ một số người thiếu thông tin là: "Hiệp định Geneve chia đôi đất nước" hay "Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền theo hiệp định Geneve".

Thực tế: Bản thân hiệp định Genève 1954 không có điều khoản nào quy định chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia. Hiệp định Genève 1954 chỉ công nhận giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho quân đội hai phía Việt - Pháp tập kết, chứ không có ý nghĩa chia cắt về chính trị hay lãnh thổ.

Đây không phải là hiệp định chia cắt đất nước như một số người thiếu thông tin đã nhầm lẫn, mà trái lại, là hiệp định lập lại hòa bình, độc lập và thống nhất của 3 nước Đông Dương, Pháp rút quân trong 2 năm và tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam năm 1956.

Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần "Thỏa hiệp" và phần "Tuyên bố Cuối cùng" (Final Declaration). Phần "Thỏa hiệp", gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng VNDCCH. Phần này có những điều khoản chính như sau:
Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (Provisional Military Demarcation Line) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính bản xứ ở dưới vĩ tuyến 17.
Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.


Bản "Tuyên bố cuối cùng" gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của 3 nước Đông Dương, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng, đoạn (6) (Paragraph [6]) là như sau: "Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam".

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau: "Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín." Và cuộc tổng tuyển cử đó sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

Nói chung đây là các ý chính của hiệp ước Genève 1954:

Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam - Campuchia - Lào.
Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.
Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập trung quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm cả người miền Nam) tập kết về miền Bắc; Chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả người miền Bắc) tập kết về miền Nam.
300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.
2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất lại Việt Nam.


Người Mỹ vốn không ký vào hiệp định Genève 1954 để tránh bị ràng buộc pháp lý, bất lợi cho việc xâm lược và chia cắt Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng chính họ cũng đã "nói hớ" và vô tình cho thấy rằng hiệp định Genève 1954 không hề là hiệp định chia đôi Việt Nam.

Nhà sử học, chính trị học George McTurnan Kahin và John W. Lewis trong sách The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam), do Delta Books xuất bản năm 1967, đã cho biết: "Trong bản Tuyên ngôn đơn phương (Unilateral Declaration) của Hoa Kỳ về Hội nghị Genève không có chữ nào nói đến "Bắc Việt Nam" hay "Nam Việt Nam". Tất cả những gì mà bên đại diện Mỹ nói đến là một Việt Nam".

Những bằng chứng ở trên đã cho thấy hiệp định Genève 1954 không chia đôi đất nước, mà ngược lại chính là quy định việc thống nhất đất nước. Chính sự xâm lăng và phá hoại tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève 1954 của Mỹ đã đưa tới sự chia đôi đất nước. 

Ngộ nhận: Sau hiệp định Paris 1973 và với sự vắng bóng của đại quân Hoa Kỳ, chính Việt Nam đã vi phạm hiệp định tấn công và dứt điểm chính quyền Sài Gòn để kết liễu chiến tranh.

Thực tế: Ý trên thoạt nghe qua bên ngoài thì thấy có vẻ hữu lý, nhưng thực tế không phải vậy. Ý định của Việt Nam là ngưng bắn để có hòa bình, dùng đòn chính trị - ngoại giao đấu tranh đòi thực hiện tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần, trong đó Việt Nam đã có sẵn 2 quân bài, vũ khí chính trị là Mặt Trận và Liên Minh, Thiệu hầu như chắc chắn phải chịu lép vế. Nên Việt Nam không/chưa cần ra đòn quân sự, trái lại đã truyền lệnh cho các đơn vị miền Nam phải ngưng bắn, án binh bất động.

Mỹ-Thiệu biết đây là giai đoạn khó khăn nên đã tận lực khai thác, lợi dụng sự án binh bất động này của quân Giải phóng mà "tiên hạ thủ vi cường" (đánh trước chiếm ưu thế), mong giành lấy thế thượng phong về quân sự trong giai đoạn mới.

Chữ ký của Mỹ-ngụy còn chưa khô mực vào hiệp định có những nội dung sau, thì họ đã mau chóng không giữ lời:

Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã quy định trong hiệp định Genève 1954.


Những hành động phá hoại hiệp định nói trên đã không cho thấy điều đó.

Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, "cố vấn" và chuyên viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.


Mỹ tiếp tục can thiệp mạnh mẽ và nắm chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Nam. Tiếp tục cung cấp vũ khí và tiền bạc cho Nguyễn Văn Thiệu. Duy trì chế độ thực dân mới. Rút đại quân nhưng để lại hàng vạn sĩ quan "cố vấn" và nhân viên quân sự mặc thường phục, khắp miền Nam vẫn đầy người Mỹ.

Sau năm 1973, lính Mỹ có quay lại Việt Nam trong các đợt rời rạc, đặc biệt là lính Thủy quân Lục chiến. Việc quân chính quy Mỹ rút đi và chấm dứt các chiến dịch quân sự trực tiếp do thực binh Mỹ tiến hành không có nghĩa sau năm 1973 không còn người Mỹ, sĩ quan Mỹ, quân nhân Mỹ nào ở Việt Nam. Mỹ cam kết trong hiệp định rằng sẽ phá đổ các căn cứ quân sự Mỹ, nhưng họ đã bội ước và chuyển giao lại cho quân đội Sài Gòn.

Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền (chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn), hai quân đội (Quân Giải phóng miền Nam và quân đội Sài Gòn), hai vùng kiểm soát (vùng giải phóng và vùng tạm chiếm) và ba lực lượng chính trị (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn, lực lượng thứ ba).


Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử, và cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra được. Họ không từ bỏ ý định duy trì chủ nghĩa thực dân mới đối với miền Nam Việt Nam, cố gắng bám víu, sử dụng nơi đây như một căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và là một thuộc địa kiểu mới. Họ đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân mới trên quy mô lớn. Mỹ đã tăng cường cung cấp quân sự và chu cấp kinh tế cho chính quyền bù nhìn, vẫn duy trì bộ máy chỉ huy cuộc chiến, với hàng vạn "cố vấn" và nhân viên quân sự người Mỹ đội lốt dân sự.

Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.


Hàng vạn tù binh và dân thường Việt Nam đến ngày 30/4/1975 mới được tự do khi Côn Đảo và Phú Quốc được giải phóng. Trước ngày 30/4 các tù nhân, tù binh phía Việt Nam vẫn đầy ở Côn Đảo, Phú Quốc và nhiều nơi khác, không hề được trao trả theo hiệp định.

Ngộ nhận: Chính quyền Sài Gòn bị Mỹ bỏ rơi sau sự kiện ký kết hiệp định Paris 1973. Sau khi Hoa Kỳ rút đại binh về nước thì đã cúp hoặc giảm lớn viện trợ ngay cho chính quyền Sài Gòn. Trong khi đó, Liên Xô, Trung Quốc và khối xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ hoặc vẫn duy trì viện trợ như cũ cho Hà Nội.

Thực tế: Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Gabriel Kolko, tác giả cuốn sách Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc Chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) do NXB Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985, cho biết sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết thì người Mỹ đã cho ông Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định, họ cam kết tiếp tục trợ cấp đầy đủ về kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; Mỹ công nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là "chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam"; không thừa nhận chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và thành phần chính trị thứ ba, như đã thỏa thuận trong hiệp định Paris.

Theo nguồn của NXB Thông Tấn, Hà Nội, viện trợ quân sự tài khóa 1973-1974 của Mỹ dành cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là 1,26 tỷ USD theo giá thời đó, tương đương 6,74 tỷ USD ngày nay.

Theo thống kê của chuyên gia kinh tế học Douglas C. Dacy trong sách Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam, 1955-1975 (Viện trợ nước ngoài, Chiến tranh, và Phát triển kinh tế: Nam Việt Nam, 1955-1975), do Đại học Cambridge (Anh) xuất bản năm 1986 và 2005, ngay sau năm 1973 (sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết), đến năm 1974, bên cạnh duy trì viện trợ quân sự thì Hoa Kỳ đã tăng viện trợ kinh tế cho chính quyền Sài Gòn 23,8%.

Theo các tài liệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau năm 1973, sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam đã giảm đột biến, tổng số tấn vũ khí và thiết bị quân sự được viện trợ giảm từ 171.166 tấn/năm trong thời kỳ 1969-1972 giảm xuống còn 16.415 tấn/năm trong thời kỳ 1973-1975.

Theo văn kiện "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua", do Bộ ngoại giao CHXHCN Việt Nam giải mật và NXB Sự Thật xuất bản năm 1979, giai đoạn sau năm 1973 là lúc mà Trung Quốc ngày càng bộc lộ ý đồ phản bội, đi đêm với Mỹ sau lưng nhân dân Việt Nam, cũng như trước đó họ đã cố tình can thiệp vào hội nghị Paris về Việt Nam nhưng bị Việt Nam từ chối.

Ngoài ra, theo các tướng tá cũ của quân đội Sài Gòn như Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, thì vào những ngày cuối tháng 4/1975, Trung Quốc đã thông qua tướng Francois Vanussème, tùy viên quốc phòng và an ninh của Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn để chuyển đến "tổng thống" Dương Văn Minh ý định can thiệp của Trung Quốc để cứu chính quyền Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch, giữ lại tình trạng chia cắt Việt Nam. Người Trung Quốc muốn thông qua người Pháp là vì ông Dương Văn Minh là một người thân Pháp, đã từng phục vụ trong quân đội Pháp.

Ngộ nhận: Nguyễn Văn Thiệu lấy cắp 16 tấn vàng và "báo chí Hà Nội có chủ trương khai thác đề tài này để rêu rao tuyên truyền bôi xấu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu".

Thực tế: Theo cựu nhân viên tình báo CIA chi nhánh Sài Gòn Frank Snepp trong sách Decent Interval (Khoảng thời gian tao nhã), do Penguin Books xuất bản năm 1980, thì đêm 25 tháng 4, các nhân viên CIA đã đưa Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu ra đi với danh nghĩa là đặc sứ của "Việt Nam Cộng hòa" đến Đài Bắc (Đài Loan) để phúng điếu Tưởng Giới Thạch (qua đời ngày 5 tháng 4). Và khi đó Thiệu không còn quyền lực gì đối với 16 tấn vàng vẫn nằm nguyên vẹn trong hầm chứa của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Còn dư luận thì vẫn bán tín bán nghi về tin đồn ông Thiệu mang vàng đi, dù đã có tuyên bố cải chính của chính quyền Sài Gòn ngày 16/4/1975.

Trong Hồ sơ mật dinh Độc Lập, tác giả Nguyễn Tiến Hưng viết: Nguyễn Văn Hảo vào gặp "tổng thống" Trần Văn Hương và dọa rằng: "Nếu tổng thống cho phép chuyển số vàng ấy ra ngoại quốc thì trong trường hợp tướng Minh (tức ông Dương Văn Minh) lên thay, tổng thống sẽ bị lên án là phản quốc!". Ông Hương đồng ý giữ vàng lại. Sáng ngày 24 tháng 4 (một ngày trước khi ông Thiệu rời Việt Nam), ông Hảo điện cho cố vấn kinh tế đại sứ quán Mỹ Denny Ellerman, nói rằng: "Tổng thống" Trần Văn Hương đã quyết định hoãn vô thời hạn việc chuyển vàng ra khỏi Việt Nam, cho đến khi một chính phủ mới được thành lập.

Đại sứ Graham Martin ngạc nhiên trước tin này, nhưng ông ta cũng không cho Trần Văn Hương hủy bỏ lệnh ấy mà quyết định tạm để vàng ở lại vì nó có thể nâng cao vị thế nào đó của chính quyền Sài Gòn khi thương lượng với phía kháng chiến. Ông lệnh cho chiếc máy bay tiếp tục đợi cho đến nửa đêm ngày 27 tháng 4. Sau này khi trả lời phỏng vấn Ts. Nguyễn Tiến Hưng ngày 27/3/1985, Martin kể: "Vào lúc chót, tôi có nghĩ đến việc liên lạc với người bạn cũ ở Thái Lan là tư lệnh không quân Dhawee Chulasapaya. Sau đó, kêu gọi thêm một số thủy quân lục chiến Thái Lan bay qua Sài Gòn để giải phóng số vàng, mang nó đi. Nhưng chỉ nghĩ thế thôi…. Vàng vẫn còn lại ở đó".

Như vậy, Nguyễn Văn Thiệu không có và không cần lấy cắp 16 tấn vàng đem đi vì tài sản của ông ta, kể cả bên Mỹ, là đã dư dả cho ông ta và con cháu sống sung túc cả đời. Báo chí cách mạng Việt Nam cũng chưa bao giờ có chủ trương tuyên truyền về một tay sai Mỹ nên không có chủ trương khai thác vụ 16 tấn vàng để bôi nhọ Thiệu.

Từ đầu tháng 4 năm 1975, khi Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn tại vị, một số tờ báo nước ngoài đã bắt đầu đăng tải tin về kế hoạch chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài với sự ám chỉ về một âm mưu chiếm đoạt của ông ta. Chính báo giới Sài Gòn là những cơ quan truyền thông đầu tiên đưa tin về sự kiện này. Tuy có báo đăng tuyên bố cải chính của chính quyền Sài Gòn, nhưng sau khi ông Thiệu đã ra đi, ngày 28 tháng 4, báo Độc Lập (một tờ báo của ngụy quyền) đã trích dẫn lại một bản tin của hãng thông tấn Reuters về chuyến ra đi của ông Nguyễn Văn Thiệu: "Tin Reuters ghi nhận liền sau khi đoàn người Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng xuống phi cơ và được đưa vào phòng khách danh dự, một số hàng hơn 10 tấn cũng đã được cất xuống theo". Các báo chí khác, trong và ngoài nước, đã viết tường thuật nói ông Thiệu đã bỏ trốn với một số lượng vàng lớn lấy đi từ ngân khố của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Trong buổi họp báo và trả lời phỏng vấn được thực hiện vào ngày 16/6/1990 tại Orange County, California, để "giải oan" cho mình, Nguyễn Văn Thiệu đã thừa nhận việc "cộng sản đăng báo khen ngợi những tên viên chức ngân hàng phản bội" và "những tên công chức ngân hàng đã dùng vàng tâng công với cộng sản rằng không có tấn vàng nào bị mất trên báo chí cộng sản" (trong đó có ông Huỳnh Bửu Sơn, người giữ chìa khóa kho vàng, từng làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia). Như vậy, có thể thấy rằng không có chủ trương khai thác chuyện 16 tấn vàng để tuyên truyền chống ông Thiệu trên báo chí.

Ngay sau khi giải phóng các nhân vật coi giữ tài chính của ngụy quyền đã ra hợp tác ngay với chính quyền cách mạng. Báo chí cách mạng khi đó đã đăng tải các phỏng vấn đầy đủ rằng nhờ tài trí của quân dân và công lớn của những viên chức ngụy quyền giác ngộ cách mạng nên nhân dân đã không bị mất 1 xu.

Như thế rõ ràng là không có chính sách tuyên truyền nói xấu Thiệu hay tuyên truyền gì về 16 tấn vàng. Sở dĩ tin đồn thất thiệt này được vang xa có lẽ một phần do nhân dân vốn đã không ưa Thiệu, rồi cứ thế một đồn mười, mười đồn trăm, rồi sau đó nhiều nhà báo do không nắm vững nên cũng viết lại theo các lời đồn. Nhưng nhiều phần là do chính những quan chức tham nhũng trong bộ máy ngụy quyền vì tham lam nên đã ghen ăn tức ở mà nghi ngờ và tố nhau ăn cắp vàng. Thời điểm ấy quả thật nhiều kẻ muốn thừa cơ lấy cắp vàng đi trốn, song không ai ngờ quân Giải phóng lại đánh nhanh và giải quyết nhanh đến như vậy, họ chưa kịp làm thì cách mạng đã đánh tới. Bọn họ ghét nhau và rất ghen ghét Thiệu nên chính bọn họ đã đồn đại lên, cộng với sự oán ghét của quần chúng Sài Gòn dành cho Thiệu và ngụy quyền Sài Gòn, nên tiếng xấu càng đồn xa.

Sau đây là một số ngộ nhận thường nghe, thường thấy từ những người Mỹ và cả một bộ phận công chúng quốc tế:

Ngộ nhận: Những tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đúng là rất phổ biến, nhưng đó là do sơ ý, vô tình, vô ý thức, giết nhầm, các hung thủ bị ảnh hưởng từ tác động của ma túy, tâm thần, sự khốc liệt của chiến tranh. Họ công nhận các tội ác và họ lên án nó, nhưng đồng thời họ ngộ nhận nguyên nhân tội ác. Họ lầm tưởng những hành động cố sát là những hành động nông nỗi xuất phát từ một trạng thái tâm lý bất bình thường, mất cân bằng, sự khủng hoảng về tư tưởng, tâm lý, tinh thần trong lửa đạn.

Thực tế: Phần ngay ở trên: "Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận" đã cho biết thực tế chuyện gì đã xảy ra. Phần lớn những tội ác chiến tranh đó từ đâu mà có.

Ngộ nhận: Quân đội Hoa Kỳ tuy thua cuộc chiến, nhưng Lục quân Hoa Kỳ chưa từng thua Việt Cộng một trận đánh nào trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Thực tế: Giáo sư Đại học DeAnza (Mỹ) Michael Kelley trong bài tham luận tháng 7 năm 1998 "Myths & Misconceptions: Vietnam War Folklore" (Truyền thuyết & quan niệm sai lầm: Các "sự tích dân gian" về Chiến tranh Việt Nam), đã viết về ngộ nhận này như sau:

"Truyền thuyết này có nguồn gốc từ sự thiếu hiểu biết hơn là sự phân tích hợp lý. Nó hoàn toàn bỏ qua thực tế là kẻ thù của chúng ta đã tiến hành chiến tranh du kích phụ thuộc vào chiến thuật 'bắn rồi chạy' (hit-and-run) thiết kế để tránh ưu thế hỏa lực áp đảo của Mỹ. Những người ủng hộ thuyết này dựa trên những thước đo cổ điển của lý thuyết chiến tranh thông thường, nghĩa là, bất cứ ai nắm giữ mặt đất sau khi kết thúc trận đánh thì là người chiến thắng. Nhưng xem sự sáng suốt của các chiến thuật thực tế ở đó (Việt Nam), sẽ là công bằng để nói rằng người Mỹ đã thua nhiều trận đánh.

Trong khi sự thật là quân đội Mỹ đã chiếm được mặt đất tại thời điểm kết thúc trong hầu hết các trận đánh, kẻ thù thường chọn thời điểm buông tha vị trí đó sau khi đã hoàn thành các kế hoạch chiến lược quan trọng. Và sau đó vài giờ thì chiến trường thường xuyên vẫn bị người Mỹ bỏ rơi. Kẻ thù gần như luôn luôn buông ra lãnh thổ ngay sau khi nó đã gây cho quân đội Mỹ lúng túng và bực bội.

Tại Việt Nam, chiến thắng tốt nhất có thể được đo bằng cách xem một lực lượng đạt được mục tiêu của mình trong bất kỳ hoạt động nào. Trên cơ sở đó, quân Bắc Việt / Việt Cộng có thể đã thành công nhiều hơn so với người Mỹ, thực tế là khoảng 85% các hoạt động quân sự, tất cả các địa điểm đánh nhau đã được khởi xướng bởi kẻ thù. Thậm chí nếu tính theo kiểu Mỹ thông thường thì người Mỹ vẫn đã thua một số lượng đáng kể các trận đánh. Trong các cuộc đụng độ lớn đầu tiên của cuộc chiến tranh trong các thung lũng sông Ia Đrăng (Tây Nguyên), tháng 11 năm 1965, ở đó, cả một tiểu đoàn 1 Kỵ binh của Mỹ đã thật sự bị tiêu diệt khi nó vấp vào một trung đoàn Bắc Việt. Khoảng 155 người đã thiệt mạng và 121 người bị thương chỉ trong vài giờ giao tranh ngắn ngủi. "Chiến thắng" chắc chắn không phải là từ ngữ trên môi của bất kỳ người Mỹ nào đủ may mắn để tồn tại trong đám cháy đó.

Vào ngày 2/7/1967, trong quá trình hoạt động, hai tiểu đoàn 1 và 9 Thủy quân Lục chiến đã bị một trung đoàn Bắc Việt phục kích. Chỉ có một trung đội duy nhất còn sống sót để kể lại câu chuyện. Nó không nhiều trong số ít những người tự coi mình là kẻ chiến thắng. Các tổn thất đáng kể như vậy đều khá phổ biến trong suốt cuộc chiến. Trong những cuộc tấn công, quân Bắc Việt / Việt Cộng thường thành công hoàn toàn trong mục tiêu của họ."


Ngộ nhận: Lính Mỹ chỉ gây tội ác với dân, còn đối với lính Sài Gòn thì xử tốt, nhân đạo, nhân văn. Lính Mỹ và lính Sài Gòn phối hợp tác chiến ăn ý.

Thực tế: CIA đã đứng sau giật dây đảo chính, lật đổ các "nhà lãnh đạo" trong ngụy quyền. Máy bay ném bom Mỹ thường xuyên "dội bom nhầm" lên trên quân lính, sĩ quan, tướng tá ngụy, thủ tiêu bằng nhiều hình thức khác nhau, gây ra nhiều cái chết mờ ám cho cả những quan chức cao cấp ngụy quyền, ví dụ các tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Hiếu. Trong khi chưa bao giờ có các trường hợp không quân ngụy "dội bom nhầm" lên quân Mỹ. Ngay cả trong ngụy quân, ngụy quyền, nhiều người cũng cho rằng đây là những động thái trừ khử những người/nhóm Mỹ không ưa, hoặc để răn đe làm gương cho những người khác. Chuẩn tướng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh, trả lời phóng viên của đài BBC Việt ngữ vào năm 2010, đã nói như sau: "Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay."

Giáo sư Micheal Kelley nói trên đã viết tiếp về ngộ nhận này như sau:

Tôi không có ý định xúc phạm các độc giả gốc Việt Nam, nhưng một số những gì sẽ được thảo luận ở đây có thể là rất khó chịu cho họ nghe. Những gì sẽ được nói là những khái quát dựa trên những quan sát thực tế của tôi về các thái độ và hành vi của lính Mỹ tại Việt Nam. Có thể có những trường hợp ngoại lệ, nhưng báo cáo này là một nỗ lực trung thực để định lượng những gì tôi đã thấy và trải nghiệm.

Trước khi phục vụ ở đó, hầu hết các nhân viên Mỹ rất ít hiểu biết về đất nước Việt Nam, hay có ít nhiều kiến ​​thức về các nền văn hóa và phong tục dân tộc của nó. Sự thiếu hiểu biết đó trở nên phức tạp bởi sự thất bại nghiêm trọng của quân đội để cung cấp nội dung đào tạo trong vấn đề đó. Người lính bộ binh trung bình có lẽ chỉ tốn 1 hoặc 2 giờ được đào tạo về nền văn hóa và lịch sử Việt Nam. Vẫn có những người khác không hề được đào tạo gì về đất nước họ sẽ sinh sống và chiến đấu trong ít nhất một năm. Kết quả là, các thái độ và hành động của người Mỹ đã bị biến dạng bởi những sự hiểu biết rất hạn chế về các dân tộc Việt Nam.

Đáng buồn thay, tôi đã có thể nói rằng hầu hết quân nhân Mỹ phát triển sự mất lòng tin cơ bản và sự căm ghét đối với Việt Nam nói chung, người Bắc hay Nam Việt Nam không quan trọng. Các thái độ thô lỗ, kiêu căng và cao ngạo của Mỹ tôi nghĩ rằng đó là công bằng để nói rằng người Việt Nam cũng phát triển một tâm lý ghét Mỹ ngược lại.

Các ý kiến ​​của quân đội Mỹ về quân lính VNCH hầu như đều là tiêu cực, nếu không nói là hoàn toàn khinh ghét. Các sĩ quan VNCH đã đạt được thứ hạng là nhờ sự giàu có và ảnh hưởng chính trị hơn là kỹ năng thực tài. Kết quả quân đội VNCH đã lười biếng và không đủ năng lực theo tiêu chuẩn quân đội Mỹ.

Trên thực tế, trong hầu hết các trận giao tranh, QLVNCH tránh tiếp xúc địch như một niềm tin tôn giáo và vô cùng nhút nhát trong việc giải quyết chiến trường với kẻ thù. Những chuyện này đã gây thất vọng và tức giận cho quân đội Hoa Kỳ. Nhiều binh sĩ Mỹ ngày nay vẫn giữ quân lực VNCH trong một tâm lý khinh bỉ lớn, bởi vì họ không muốn xuất hiện để đấu tranh cho sự tồn tại của họ.

Trong nhiều trường hợp, QLVNCH thậm chí không dám tiếp cận kẻ thù và dựa dẫm, lệ thuộc vào quân đội Mỹ bất cứ khi nào có thể. Quan chức chính phủ Việt Nam Cộng hòa thường xuyên bị xem thường bởi những người lính trung bình. Tham nhũng là phổ biến và được che đậy vụng về. Rõ ràng chúng tôi thấy có rất nhiều quan chức chính phủ quan tâm hơn vào việc tham lam bòn rút hơn việc đánh nhau và giành thắng trước Việt Cộng.

Trong nhiều trường hợp, nó có vẻ rõ ràng rằng các quan chức Việt Nam Cộng hòa đã chơi cả hai cách, vẫy cờ Việt Nam Cộng hòa trong một tay và lá cờ Giải phóng ở tay kia. Mặt khác, trong khi những người lính trung bình của Mỹ có thể không thích đối phương, song hầu hết đều có một sự tôn trọng khả năng chiến đấu, lòng can đảm và quyết tâm của họ. Nhiều người trong số chúng tôi đều kinh ngạc trước những khó khăn và chịu đựng của đối phương. Rõ ràng hầu hết bọn họ là những người đàn ông và phụ nữ cực kỳ dũng cảm, ngoan cường, tháo vát và thật sự tin tưởng vào sự nghiệp của họ. Trái lại, quân đội VNCH đã không sở hữu những thuộc tính đó và còn tương phản đáng ngạc nhiên, hiện thực đó đã đặt câu hỏi nghiêm trọng trong tâm trí của chúng tôi về sự tham gia của những người lính chúng tôi. Nhiều hơn một vài người trong chúng ta đã đem cảm giác khó chịu của Mỹ đi quá xa. Đáng buồn thay, nội dung cơ bản của tâm lý phân biệt chủng tộc đó đã chiếm ưu thế và thường điều chỉnh thái độ và hành động đối với người Việt Nam của chúng tôi. Đó là hoàn cảnh không may làm lem luốt quan hệ của chúng tôi với người Việt. Nó cũng dẫn đến nhiều hiểu lầm, những sai lầm ngu ngốc và trong một số trường hợp để lại hậu quả rất bi thảm."


Xuất phát từ tâm lý thù địch với người Việt Nam, kể cả trong hàng ngũ lính ngụy, và tâm lý chán nản, bất lực trước một cuộc chiến khó khăn vô vọng tìm không ra cách thắng, theo Gs. Micheal Kelley, các hạ sĩ quan Mỹ thời đó hay nói đùa với nhau một câu cửa miệng như sau: "Để thắng cuộc chiến này, tất cả những gì chúng ta cần làm là đặt tất cả người Nam Việt Nam trên tàu thuyền ở biển Nam Trung Hoa và sau đó tấn công hạt nhân cho hai miền thành than. Sau đó, chúng ta cho tàu chìm."

Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam và bày tỏ tinh thần ủng hộ Việt Nam của người nước ngoài đã diễn ra khắp thế giới, đặc biệt ở ngay tại chính quốc Hoa Kỳ, và đặc biệt dữ dội trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1973 khi đại quân Hoa Kỳ trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam.

Tại Mỹ, phong trào bao gồm hơn 200 tổ chức quần chúng, trong đó có nhiều tổ chức nằm dưới dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Phối hợp Toàn quốc đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Được hàng trăm thành phố, hàng chục vạn người tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú và quyết liệt (mít tinh, biểu tình, đốt thẻ quân dịch, bãi khóa, chống lính, tự thiêu....).

Một vài sự kiện tiêu biểu như: Cuộc biểu tình đồng loạt của khoảng 10 vạn người ở 60 thành phố trong ngày Quốc tế phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (15-17/10/1965), do Ủy ban Ngày Việt Nam tổ chức; Tuần lễ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, tháng 10/1967 của khoảng 2 vạn người khắp nước Mỹ tập trung về Washington (có sự phối hợp đấu tranh của người dân các nước Canada, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Úc....); có 16 vụ tự thiêu để phản đối cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam; năm 1968, gần 5 vạn thanh niên trốn lính trong phong trào chống đi lính; gần 1 ngàn trường cao đẳng và đại học tổng bãi khóa; gần 300 ngàn công nhân thuộc ngành hàng không, ngành điện.... đình công, làm tê liệt các ngành sản xuất này.
Ngày 2/11/1965, 8 tháng sau khi quân đội viễn chinh Mỹ bắt đầu đặt chân vào Đà Nẵng của Việt Nam, một người Mỹ là Norman Morrison đã tự thiêu ngay trước Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington để phản đối Chiến tranh Việt Nam. Ông Norman Morrison quê quán ở Erie thuộc bang Pensylvania, Hoa Kỳ. Năm 1959, ông nhận bằng Cử nhân Thần học tại Đại học Pittsburgh Seminary. Morrison đã nhiều lần xuống đường phản đối, nhưng cuộc chiến tranh ngày một khốc liệt hơn. Ông nghĩ rằng các khẩu hiệu, băng rôn và các cuộc tuần hành không làm những người cầm quyền chú ý thì anh phải dùng tới biện pháp cuối cùng: Ngọn lửa của thân thể mình! Thời điểm đó, Morrison đã có vợ và hai con gái, nhỏ tuổi nhất là cháu bé tên Emily, mới 18 tháng tuổi. Buổi chiều ngày 2/11/1965, Morrison bế bé Emily đến sát Lầu Năm Góc, trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, bên dòng sông Potomac, sau khi đã viết lá thơ gởi lại cho vợ. Morrison đặt cháu Emily ra xa rồi tưới xăng, châm lửa tự thiêu, ánh lửa bùng lên như một thông điệp của người dân Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và các tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Ngày 15/11/1969, bốn năm sau đó, một cuộc tuần hành khoảng 250 ngàn người nổ ra ở đại lộ số 5 trung tâm New York, chỉ cách Quảng trường Thời đại (Times Square) vài dãy phố. Cùng lúc là hàng loạt các cuộc xuống đường ở nhiều thành phố lớn tại cả bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ.

Cuộc biểu tình này vượt tầm kiểm soát của chính quyền Mỹ. Các quan chức Mỹ hỏi nhau: chuyện gì đang xảy ra và tại sao? Trước đó, người Mỹ chỉ nghe về cuộc chiến tranh Việt Nam qua loa tuyên truyền của chính quyền Mỹ. Nhưng cho đến cuộc tấn công mùa xuân 1968, báo chí Mỹ, đặc biệt là truyền hình Mỹ đã truyền tải hình ảnh cuộc chiến Việt Nam đến tận từng gia đình người Mỹ. Người Mỹ nhìn thấy tận mắt binh lính họ châm lửa đốt nhà dân thường, bắn chết người vô tội, những em bé bị bom napalm bốc cháy, tòa đại sứ Mỹ bị đánh úp, binh lính Mỹ kéo lê xác đồng đội….
Phong trào phản chiến bước sang một bước ngoặt mới khi cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên Đại học Tiểu bang Kent (bang Ohio) ngày 4/5/1970 đã bị Vệ binh quốc gia Mỹ xả súng vào. Kết quả là 4 sinh viên bị bắn chết và 9 người khác bị thương.

Vụ xả súng Đại học Tiểu bang Kent đã gây sốc toàn nước Mỹ. Có thể nói cuộc chiến đấu ngoan cường của dân tộc Việt Nam đã làm rung động lương tri của nhân dân thế giới và nhất là nhân dân Mỹ, do đó dư luận thế giới thời đó đã gọi Việt Nam là "lương tâm của thời đại".
Nguyên nhân chiến thắng

Từ lúc Mỹ thất bại trước Việt Nam, hầu hết giới nghiên cứu, các nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị học khắp Đông - Tây khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, về nước Mỹ, về quân đội Hoa Kỳ, và về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đều đặt ra một nghi vấn, một câu hỏi: Tại sao Mỹ thua Việt Nam?
Họ dùng gần 60 vạn quân trong nội địa Việt Nam, và cả nhiều căn cứ quân sự bên ngoài và chung quanh Việt Nam, tổng cộng gần 1 triệu thực binh Mỹ, rồi cả quân ngụy và quân chư hầu. Với một trình độ phát triển cao hơn nhiều bậc. Với một trình độ khoa học kỹ thuật vượt trội, áp đảo, với một sức mạnh quân sự, ngân sách quốc phòng, khả năng chi tiêu vũ khí, công nghệ chiến tranh vượt trội. Với những vũ khí hiện đại, tối tân, kể cả vũ khí sinh học hủy diệt thiên nhiên, môi trường, mầm sống, sinh vật, cây cỏ, con người, hủy rụi những rừng già thiên nhiên tồn tại hàng ngàn năm để Việt Cộng không thể ẩn thân. Để lại di hại, di chứng tàn khốc đến ngày nay và có thể ngàn năm sau. Với một nền văn minh công nghệ và trình độ sản xuất vượt bậc và bỏ xa Việt Nam.

Họ huy động một lực lượng không quân đánh đâu thắng đó, chưa từng chiến bại, với đủ mọi loại bom, từ bom chùm, bom bi đến bom Napalm rải thảm lên mảnh đất nhỏ bé, với hơn 8 triệu tấn bom, gấp gần 3 lần tổng số bom mà các phe rải xuống trái đất trong Thế chiến II nói riêng và trong lịch sử chiến tranh của nhân loại nói chung.

Trong 10 năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã rải khoảng 75 triệu lít chất độc hóa học, trong đó phần nhiều là chất độc da cam, xuống hơn 10% diện tích đất và gần nửa diện tích rừng ở Việt Nam. Tất cả số bom và chất độc hóa học đó đều dồn lại dội xuống một mảnh đất nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu, một quốc gia có tổng diện tích thua nhiều tiểu bang của Mỹ.
Ý nghĩa chiến thắng:
1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam

Một thuộc địa kiểu mới, một xã hội thực dân mới thì đương nhiên cần phải giải phóng khỏi tay giặc xâm lược. Nhưng bản thân xã hội trong vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam còn có những căn bệnh trầm kha, đưa đến nhu cầu cần phải được giải phóng, không thể không giải phóng.

Xã hội trong những vùng tạm chiếm, về văn hóa thì méo mó, thác loạn, Tây hóa, Mỹ hóa. Đời sống tinh thần lệch lạc, đạo đức băng hoại, những phụ nữ ăn mặc hở hang đứng đường chào mời lính Mỹ là những hình ảnh thường thấy trên đường phố Sài Gòn, nhất là về đêm.
Văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam được giải mật "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua", do nhà xuất bản Sự Thật phát hành năm 1979, đã ước tính: Ngoài các nạn nhân bị thương vong, dị tật, di chứng từ cuộc chiến, nạn nhân chất độc hóa học, người Mỹ còn để lại một nền kinh tế tê liệt, trên 3 triệu người thất nghiệp, gần 1 triệu trẻ mồ côi, khoảng 600 ngàn gái mại dâm, trên 1 triệu bệnh nhân nghiện ma túy.

Đó là hậu quả của một thời kỳ ngoại thuộc lâu dài và buôn lậu ma túy gần 20 năm từ Diệm - Nhu và Trần Lệ Xuân cho đến Thiệu - Kỳ và Nguyễn Thị Lý, cũng như gia đình của họ. Ma túy được bày bán công khai ngoài chợ giữa ban ngày, nhất là ở Chợ Lớn. Một phóng viên của tuần báo Time đã ước lượng ở Chợ Lớn có đến khoảng 2.500 cơ sở hút ma túy hoạt động công khai.
Năm 1969 là thời điểm quân Mỹ tràn ngập miền Nam Việt Nam đông đảo nhất, lên đến hơn 55 vạn quân. Trong năm này binh lính Mỹ ở Sài Gòn ăn xài khoảng 30 triệu USD mỗi tháng (tương đương 200 triệu USD ngày nay). Ngoài các viện trợ kinh tế dồi dào thì khoản tiển khổng lồ này cũng góp phần làm "thay đổi bộ mặt" của "Hòn ngọc Viễn Đông", tạo ra vỏ bọc hào nhoáng phồn vinh giả tạo.
Ngoài sự tê liệt vì tệ nạn buôn lậu ma túy, xã hội trong những vùng tạm chiếm còn bị tê liệt bởi lối sống sa đọa và đồi trụy. Khoảng 6 triệu người Mỹ và gần 60 vạn quân viễn chinh Mỹ ở trong vùng tạm chiếm, đã tạo ra các nhu cầu và văn hóa "tiêu dùng" mới. Để "giúp vui" cho quân Mỹ, Mỹ-Thiệu cho mở cửa hàng loạt phòng tắm hơi, hộp đêm, nhất là ổ mại dâm, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá của người Mỹ. Thị trường mại dâm ở Sài Gòn trước năm 1975 được người dân quen miệng gọi là "chợ heo", được Mỹ-Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Năm 1966, sau khi từ Sài Gòn về Mỹ, thượng nghị sĩ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ mại dâm".
Sử gia Stanley I. Kutler trong Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) do Simon & Schuster McMillan xuất bản năm 1996, đây là cuốn sách viết theo quan điểm và tuyên truyền chính thức, chính thống và công khai của chính phủ Mỹ, đã phải viết về xã hội dưới thời Mỹ-Thiệu như sau:

"Đối với hầu hết người dân trong các thành phố, đời sống càng ngày càng trở nên khó khăn. Vào năm 1972, có vào khoảng 800 ngàn trẻ em mồ côi lang thang trên các vỉa hè trong các đường phố ở Sài Gòn và một số thành phố khác, sống bằng nghề ăn mày, đánh giày, rửa xe, móc túi và dẫn khách làng chơi về cho chính chị gái và mẹ của chúng. Có vào khoảng 500 ngàn gái mại dâm và gái bán ba, trong đó có nhiều người là bà vợ của anh em quân nhân trong quân đội Nam Việt Nam. Họ phải làm cái việc ô nhục này để phụ cặp đồng lương chết đói của ông chồng không đủ nuôi cho một người. Ngoài ra, lại còn có khoảng 2 đến 3 triệu người, trong đó có những người già cả hay thương phế binh của quân đội Nam Việt Nam không thể nào tìm được công ăn việc làm. Vào năm 1974, tình trạng đói đã lan rộng ra nhiều nơi ở miền Nam. Theo cuộc thăm dò của anh em sinh viên Ca-tô thì ngay trong khu vực giàu có nhất trong thành phố Sàigòn, chỉ có 1/5 tổng số gia đình có đủ ăn, một nửa tổng số gia đình cho là có thể lo được mỗi ngày một bữa cơm và một bữa cháo bằng thứ gạo rẻ tiền nhất. Các gia đình còn lại đều đói. Đói và thất nghiệp đưa đến tội ác, tự tử và biểu tình trong khắp các vùng do chính quyền Nam Việt Nam quản lý."
Tóm lại, miền Nam đã được giải phóng khỏi những gì? Trước hết là khỏi sự chiếm đóng của quân đội Mỹ, sự thao túng, lũng đoạn, ảnh hưởng của giặc ngoại xâm, ách đô hộ thực dân mới, và các tội ác chiến tranh.

Miền Nam không còn bóng giặc, không còn tiếng bom đạn, không còn những ngày đêm vùng vẫy trong những nhà tù lớn được gọi là "Ấp chiến lược", không còn những ngày đêm bị càn bị quét, không còn những trận càn, ruồng bố, khủng bố trắng, tàn sát, hủy diệt hàng loạt và những tội ác chiến tranh to lớn mà nhiều người coi là những tội ác diệt chủng, chống nhân loại.

Không còn những thảm cảnh giết người đốt nhà, thảm sát, "ba sạch" (phá sạch, giết sạch, đốt sạch). Không còn những cảnh phụ nữ, trẻ con bị hiếp rồi giết. Không còn những cảnh những bà cụ, ông lão bị lùa xuống mương rồi xả súng. Không còn những tên giặc giơ thủ cấp của người Việt yêu nước khoe khoang trước ống kính. Không còn những đạo luật giết người, "lê máy chém" khắp nơi.
Không còn bọn mật vụ Phượng Hoàng hàng ngày hàng giờ lùng sục bắt cóc, thủ tiêu. Không còn những tên lính giặc không coi người Việt là loài người như sĩ quan Mỹ Celina Dunlop đã tự bạch trên kênh BBC Anh ngữ tháng 3 năm 2008:"Phần lớn trong nhóm chúng tôi không coi người Việt là loài người." Không còn những thảm kịch hành hạ, tra tấn, cắt bỏ các bộ phận cơ thể phụ nữ, trẻ em. 
Không còn những bi kịch lính Mỹ đối đãi bất công, đánh đập, giết chóc, "dội bom nhầm" lên một bộ phận lính ngụy, sĩ quan ngụy, giết "tổng thống" ngụy. Không còn những lần người Mỹ thí nghiệm và lùa lính ngụy đi vào đất chết. Không còn cảnh tượng lính Mỹ hãm hiếp, bắt làm nô lệ tình dục vợ con và người thân của lính ngụy. Không còn cảnh những cô gái Sài Gòn phấn son kỹ lưỡng với những chiếc váy không thể ngắn hơn đứng đầy đường công khai giữa ban ngày chào mời lính Mỹ.Không còn cảnh người Mỹ hoành hành khắp miền Nam, muốn giết ai thì giết, từ phụ nữ trẻ em cụ già cho đến "tổng thống".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét