Đây là một thí dụ về nhà sử học Dương Trung Quốc
Sáng nay mình vào Khu tán gẫu thấy bạn Vagabond Wind đăng Clip lịch sử quá trình hình thành và xây dựng nước Việt Nam. Clip này hoàn toàn sai trái, tuy nhiên nó được PR của 2 nhà sử học Dương Trung Quốc và Lê Văn Lan.
Chỉ riêng phần đầu nói đến Điện Biên Lai Châu là của Tàu được Tàu nhượng lại cho VN theo hiệp ước Pháp - Thanh 1887 là hoàn toàn láo xược.
Dưới đây là bài mình sưu tầm được. Gửi các bạn cùng xem.
Sao lại có dạng nhà sử học đi xuyên tạc lịch sử ? Sao lại có loại nghị sỹ phản quốc bồi lưỡi bồi mõm thuê cho giặc cướp lãnh thổ ta ? Chẳng lẽ ông Dương Trung Quốc không biết nguồn gốc vùng Tây Bắc, về hiệp ước Pháp Thanh cắt mỏ đồng Tụ Long cho Trung Quốc đổi lấy quyền làm đường sắt Vân Nam? Tại sao ông Quốc có thể xuyên tạc ngược 180 độ rằng, hiệp ước Pháp -Thanh 1887 là Việt Nam mượn thế Pháp xâm lược Lai Châu Điện Biên, trước đó của Trung Quốc?
Cái nguy hiểm là clip làm rất hấp dẫn với trẻ con. Nội dung của nó là xuyên tạc lịch sử, biến chúng ta thành kẻ chuyên đi xâm lược, trong khi phần lớn lịch sử của cúng ta là bị đô hộ. Chúng ta bắt nạt kẻ yếu nhưng lại bị kẻ mạnh làm nhục.
Sự thật ở sau điều này là gì ? thiên hạ đầy rẫy những trẻ con ngu dốt đần độn mà thích được làm người nổi tiếng.
Một clip nhố nhăng trên nét là chuyện thường. Nhưng tại sao Dương Trung Quốc phải nổ đến đoạn "sock cả bộ"? Clip sai rất dễ thấy đến trẻ con học phổ thông cũng biết, tại sao những 2 "nhà sử học" lăng xê nó ? Riêng Dương Trung Quốc có ý kiến hơi có vẻ chùn để dễ thoát vạ miệng sau này, nhưng ông ta chỉ lo đến thời điểm năm tháng có thể nhầm, không hề phát biểu rằng đây là clip phản quốc. Tức là threo toàn bộ các nhà sử học này, không kể thời điểm có thể nhầm, thì nội dung clip là chính xác.
Sự thật là, toàn bộ clip là xuyên tạc lịch sử, phản quốc. Trong đó mở đầu là đoạn xuyên tạc ngược 180 độ lịch sử.
Đầu tiên là xem cái nguồn nào đã được nhét vào cái clip này.
Ví dụ một đoạn.
"Lãnh thổ Việt Nam thời kỳ đầu độc lập bao gồm khu vực Bắc Bộ và 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, tương đương với lãnh thổ cũ nước Văn Lang của các vua Hùng
Sáp nhập Tây-Bắc
Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sát nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.
Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.
Năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man của người Thái đã sát nhập vùng Sơn La, các huyện phía tây Thanh Hóa, Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Việt."
Chúng ta có thể xem chính sử để rõ chuyện quốc gia đại sự, và là chuyện thắng trận, nên không thể không ghi. Cũng lạ là một nghị sỹ, lại xưng là nhà sử học, mà Dương Trung Quốc có thể cãi cả chính sử. Xưng là "nhà sử học", nhưng Dương Trung Quốc và Ngô Văn Lan đem thứ rác rưởi như wiki cãi cả chính sử, bịa đặt sự kiện.
Chuyện này cũng liên quan đến nhà Tống, nên không thể ghi bậy. Không hề có chuyện sát nhập hay mất cái gì cả. Giặc đánh vào châu Bình Lâm của ta, là huyện Vị Xuyên, huyện cửa khẩu sông Lô của Hà Giang, tức là lúc đó Hà Giang thuộc về nước ta. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Vnthuquan, Bản Kỷ Toàn Thư Q2(a) (chép năm 1014 Đoàn Kính Chí), Bản Kỷ Toàn Thư Q2(b) (có chú thích 390-391 của đoạn này).
"Giáp Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 5 [1014] , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 7). Mùa xuân, tháng giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa. Châu mục châu Bình Lâm390 là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương391 đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi [7a] bọn Chân vào ra mắt ở điện Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhau."
Ngay từ 1:46, mục có tư liệu lịch sử đầu tiên là cương thổ nhà Lý. "lãnh thổ nước ta bao gồm đồng bằng bắc bộ, và ba tỉnh, thanh hóa, nghệ an, hà tĩnh"... mình không cần biết điều đó đúng hay sai, mà bản đồ tô cả lạnh sơn, quảng ninh, tuyên quang, cao bằng... đều đồng bằng bắc bộ hết.
Câu nối tiếp "diện tích lãnh thổ lúc này cũng tương đương với nước văn lang khoảng 500 năm trước công nguyên". Trời đất, Văn Lang có ghi lại bản đồ cương thổ ? Thế hồi đó Âu Việt ở đâu, Lạc Việt ở đâu, sau khi thống nhất thì Âu Lạc ở đâu. Cho đến giờ, các nhà sử học đều thống nhất cơ cấu nhà nước thời Văn Lang-Âu Lạc, như thời thành bang bên Âu. Đó là các bộ lạc tôn sùng một bộ lạc đứng đầu. Vùng ảnh hưởng của Văn Lang-Âu Lạc bao trùm đến Trung Quốc và Thái Lan.
2:26. Tuyên Quang, Hà Giang là thuộc Tây Bắc, do nhà Lý đánh chiếm của Đoàn Chính Khí. Dương Trung Quốc ơi là Dương Trung Quốc, Hà Tuyên là thuộc miền Đông Bắc, mặc dù nó ở hướng chính bắc. Có thể lấy Hoàng Liên Sơn chia ra thì Lào Cai Yên Bái là Đông. Có thể lấy sông Hồng chia thì Lào Cai Yên Bái là Tây, nhưng Hà Tuyên bao giờ cũng là Đông Bắc.
Ngoài địa lý, vấn đề lịch sử này cũng sai. Không phải đến thời Lý vua Lý mới xâm lược Hà Giang, Lào Cai của Đại Lý. Đại Lý ở tận đất Điền bên Trung Quốc cơ, đó là vùng đầu nguồn sông Trường Giang. Chỉ đến khi Nam Chiếu và nối sau là Đại Lý mạnh lên vào thế kỷ thứ 8, thì Đại Lý mới xâm lược Đại Việt thời Cao Biền, và cũng đo co vòi chạy xa từ thời đó rồi. Lào Cai thuộc về Việt Nam từ thời Hùng Vương, Văn Lang, Âu Lạc, với các tên địa danh và bộ tộc như Tân Hưng, Tây Vu..., chứ không phải quân ta xâm lược Lào Cai của Đại Lý vào thời Lý. Lào Cai đầu thời Bắc thuộc, thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Sau thuộc là quận Tân Hưng, đất Giao Châu thời Tây Tấn. Sau là đất các châu Đan Đường, Chu Quý thuộc Giao Chỉ vào thời Tùy. Tiếp theo đổi là Lâm Tây châu, Đức Hóa châu thuộc phủ An Nam thời Đường. Vào các thời họ Khúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê, đầu Lý thì vẫn thuộc Đạo Lâm Tây. Sau cuối Lý đổi là Đăng Châu, sang Trần là Quy Hóa.
Trong lịch sử dựng nước giữ nước, chúng ta đã bị lấn nhiều đất thuộc Lào Cai. Các nhà sử học đều công nhận rằng, ranh giới Giao Chỉ thời Bắc Thuộc và Âu Lạc, Văn Lang.... lên đến Khâm Châu nay thuộc Trung Quốc.
Ngoài ra, Chăm Pa trước đây cũng thuộc Giao Chỉ là huyện Tượng Lâm, kéo từ Đèo Ngang đến Đèo Hải Vân (Quảng Bình - Quảng Trị - Huế). Lúc Hán thôn tính Nam Việt thì chưa có huyện này, về sau các quan cai trị nhà Hán mới thôn tính. Sau này tách ra đặt tên nước là Campa (Chăm Pa) và phát triển đến Quảng Nam, Trung Quốc gọi là Lâm Ấp. Cổ sử ta thời Văn Lang Âu Lạc viết chữ giun kiểu Ấn Độ, gồm nhiều bộ lạc đứng đầu là Hùng Vương và các vua sau, anh em với Phù Nam-Chân Lạp-Campuchia, Chăm Pa, Nam Chiếu-Đại Lý-Ai Lao-Thái Lan-Lào...
Sau khi thôn tính Nam Việt nhà họ Triệu và lấn thêm phía nam, nhà Hán chia Âu Lạc cũ ra thành các quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân ( Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình, Quảng Trị, Huế). Ba quận này cũng với các quận khác là Hợp Phố - Nam Hải (Quảng Đông), Chu Nhai - Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) , Uất Lâm - Thương Ngô (Quảng Tây), là những quận thuộc về Nam Việt cũ. Ngoài Quận-Huyện có tên Giao Chỉ, còn có đơn vị hành chính to hơn là Bộ Giao Chỉ cai quản các vùng trên, trùng tên nên dễ nhầm. Bộ Giao Chỉ sau này hay được gọi là Giao Châu.
Cần nhắc rằng, người Trung Quốc chỉ cai trị được những vùng đồng bằng, còn miền núi Giao Chỉ chỉ đánh thuế được những thung lũng lớn hay thuận tiện đi lại. Uất Lâm ở Quảng Tây là lãnh thổ giáp Giao Chỉ, coi là biên giới Giao Chỉ, ngày nay là sông Uất (Uất Giang) ở Quảng Tây. Như thế, lãnh thổ Giao Chỉ còn ăn sang Quảng Tây rất nhiều so với thời ta độc lập (như Lý). Và ta ngày nay cũng bị co Lào Cai vào rất nhiều so với thời Lê-Minh.
2:56. Đến đây thì tởm lợm cái clip này và kẻ la liếm lăng xê nó là Dương Trung Quốc, la liếm đến đặt câu "clip lịch sử gây sock bộ giáo dục". Đúng là sốc thật, nhưng mà sốc về một nghị sỹ Dương Trung Quốc xưng là nhà sử học, mà ngu dốt đến mức thậm chí dạy trả con phản quốc. "Các tỉnh Tây Bắc Điện Biên Lai Châu được Trung Quốc cắt về nước ta sau hiệp ước Pháp Thanh 1887". Vậy là đã rõ, clip này có nội dung làm xói mòn lòng yêu nước, yêu non sông của trẻ con, và đặc biệt là phá hoại tinh thần bảo vệ tổ quốc trước Trung Quốc từ thơ ấu. Nguồn gốc những clip loại này cũng như hộ chiếu Trung Quốc in hình lưỡi bò, hay sách trẻ con đánh vần in hình cờ Trung Quốc, và không chỉ một vài đầu sách, không chỉ đầu sách nhập bản quyền từ Trung Quốc, vì Trung Quốc chữ vuông không đánh vần và không đánh vần tiếng Việt. Như vậy, cùng với hộ chiếu in hình lưỡi bò, đầu tháng 3-2013 có cả một chiến dịch, và khởi đầu chiến dịch đó là Dương Trung Quốc dùng báo giáo dục Việt Nam la liếm lăng xê những tác phẩm này của Trung Quốc, lừa đảo từ tuổi thơ ấu đánh vần.
Điện Biên - Lai Châu , trước thuộc tỉnh Lai Châu, là 2 trong số 6 châu lệ thuộc Việt Nam từ thời Lê, nhà Mạc dâng gần hết cho Trung Quốc để đế quốc bảo hộ. Nhà Mạc dâng 4 trong số 6 châu, 4 châu đó là: Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, các hủ nho về sau có nói là trả lại. Thật ra, đó là các quốc gia độc lập tương đối, mạnh bên nào thì theo bên đó, trước đó Đại Lý bị nhà Minh diệt, ta mất nước, thì các châu đó theo Minh. Khi ta độc lập, họ đã theo ta vì ta gần hơn, bán nước là bán nước, làm gì có nguỵ biện. Còn vùng Lai Châu thì là 2 động còn lại, toàn thuộc về ta, làm gì có của Trung Quốc mà nhà Thanh bán cho ta.
Lai châu trước thuộc đơn vị hành chính Hưng Hóa, cuối thời Nguyễn là một tỉnh, có đô thành Hưng Hóa hiện trên đất Phú Thọ. Đơn vị hành chính này có thể có các tên "đạo thừa tuyên Hưng Hóa" (Lê, Tháng 6 âm lịch Năm Quang Thuận thứ bảy 1466, vua Lê Thánh Tông chia nước thành 13 đạo thừa tuyên, Hưng Hóa là một trong 13 đơn vị hành chính đó), "trấn Hưng Hóa" ( Lê Trung hưng), hay là tỉnh (Nguyễn). Ngày 10 tháng 4 năm 1884 (tức 15 tháng 3 âm lịch), ở đây có trận chiến quân Pháp đánh thành quân ta do Hoàng Kế Viêm và Nguyễn Quang Bích cùng quân Cờ Đen giữ. Nếu như kể đến nhà Nguyễn thì có sách Hưng Hóa Kỷ Lược của Phạm Thận Duật, người Ninh Bình, viết năm 1856 khi làm chức Tri châu Tuần Giáo. Theo Hưng Hóa Kỷ Lược, Hưng Hóa giáp với các nước Nam Chưởng và Xa Lý, nay là các tỉnh Luông-pha-băng (Louangphabang) và Phoong-sa-lì (Phongsali) bên Lào. Trong đó Phoong-sa-lì là tỉnh cực bắc Lào, giáp ngã ba biên giới Lào-Việt-Trung, ở ba tỉnh Phongsali-Lai Châu-Vân Nam. Như thế Hưng Hóa Kỷ Lược nói rằng: Lai Châu ngày nay là thuộc đất Hưng Hóa đó. Cũng theo sách đó, một số đơn vị hành chính trực thuộc Hưng Hóa vẫn còn đến ngày nay và thuộc về Lai Châu-Điện Biên. Như Lai (châu Lai, viết tiếng Hán là Lai Châu thành tên đến nay), Tuần Giáo (một huyện của thành phố Điện Biên ngày nay), Ninh Biên ( thung lũng Điện Biên Phủ, thành phố Điện Biên ngày nay ), Quỳnh Nhai (huyện thuộc Sơn La ngày nay, giáp Lai Châu và Điện Biên ngày nay).
Sử rõ ràng như thế, và câu chuyện về Lai Châu không phải là không nổi tiếng, nhưng ông Dương Trung Quốc và nhiều người khác có thể nói Lai Châu là đất Trung Quốc. Lai Châu và Điện Biên do ta mượn thế quân Pháp cướp lấy của Trung Quốc. Nhất là trong bối cảnh biển đảo hôm nay. Nhắc lại là, cùng la liếm vụ này với "nhà sử học Dương Trung Quốc" là "nhà Sử học Lê Văn Lan".
Hiệp Ước Pháp Thanh năm 1887 (Điều ước Constans 1887) là điều khoản thi hành của Hòa ước Thiên Tân 1885. Constans 1887 có nội dung chính là. Pháp lợi 2 điểm, Thanh ngừng chống Pháp ở Bắc Bộ (thực chất quân Thanh tống quân Cờ Đen là loạn đảng đã đầu hàng sang ta để mượn Pháp tiêu diệt dần, về sau quan Cờ Đen hết đường về hòa nhập với dân Bắc Bộ), Pháp được xây tuyến đường sắt Vân Nam. Đổi lại, điều khoản thứ 3 là ta cắt mỏ đồng Tụ Long (Hà Giang) và 10 xã Quảng Ninh về cho Trung Quốc. Một hiệp ước mất nước như thế mà Dương Trung Quốc dám là liếm xuyên tạc 180 độ, thành ta xâm lược Trung Quốc. Các điều ước này có nội dung đã copy lên wiki và mình dã kiểm tra lại (nhưng wiki rất dễ bị đổi, mình láy linh này vì hiện ko còn link nào khác, sau này mình sẽ sửa, có cái link này nhưng mình chưa có thời gian kiểm tra vì tên địa danh chuối quá-link của Tầu Khựa). Bản đồ vùng 10 xã Quảng Ninh bị cắt. Bản đồ cũ, địa giới Bắc Kỳ năm 1879, tức tám năm trước Công ước Pháp Thanh lấy sông Dương Hà (sông An Nam Giang) làm biên giới giữa tỉnh Quảng Yên và tỉnh Quảng Đông. Sau năm 1887 thì biên giới chuyển xuống phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới. Con sông biên giới trước đây người Tầu gọi là An Nam Giang nay đã hoàn toàn nằm trong đất Trung Quốc.
2:50 "Sơn La là vua lý sát nhập Bồn Man" Chỉ có wiki hay Dương Trung Quốc, "nhà Sử học Lê Văn Lan"... mới có thể chế ra loại này. Sơn La mình đã nói trên, thuộc về Hưng Hóa. Còn Bồn Man là một vương quốc của người Lào ở phía Nam, không liên quan gì đến Sơn La. Bồn Man sát nhập vào Việt trước sức ép của các vương quốc khác bên Lào, vua Lê cho tự trị, họ Cầm làm phụ đạo, sau đổi ra chức tuyên úy. Vùng đất đó là Quỳ Hợp của Nghệ An ngày nay (tên cũ là quy hợp, quay về sát nhập). Liên quan đến sơn la cái lờ mợ tiên sư cả dây nhà lợn. Hay là ngày xưa Nghệ An ở cạnh Lai Châu rồi trôi ra đây. (Đại Việt Sử Lý Toàn Thư nói đến Bồn Man ở các đời Lê Thái Tổ Lê Lợi, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông).
Về việc Việt Nam xâm chiếm Campuchia trong clip, mình thấy gõ dài quá, copy một chút link đã dẫn:
"Tuy nhiên, PGS Mền cho rằng cần chỉnh sửa hai điểm cho chính xác. Đó là khu vực Nam Bộ trong clip nói rằng vùng đất này trước khi chúa Nguyễn Hoàng (1558-1612) vào mở rộng là đất thuộc Campuchia, điều đó không đúng với lịch sử. Từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, vùng đất Nam Bộ thuộc vương quốc Phù Nam.
Là quốc gia ven biển, lãnh thổ Phù Nam rất rộng lớn, bao gồm vùng đất Campuchia, phía Nam Việt Nam, Đông Nam và phía Tây Thái Lan, kéo dài đến phía Nam nước Lào và đến tận cực Nam bán đảo Malaysia, mà trung tâm là vùng Nam Bộ. Cư dân gồm đa sắc tộc (bên cạnh người bản địa còn có người gốc Mã Lai - Đa Đảo - từ biển vào).
Sau năm 627, Phù Nam bị sáp nhập vào Chân Lạp của người Khmer, Chân Lạp lại phân ra Lục Chân Lạp thuộc vùng trung lưu sông Me Kong và Thủy Chân Lạp, miền hạ lưu. Đến thế kỷ XVII- XVIII, vùng đất xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam đã tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay."
Mình chỉ nói rõ thêm chút.
Chân Lạp từ một chư hầu của Phù Nam đã thôn tính Phù Nam vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất. Cho đến các thế kỷ 7-8 thì Chân Lạp thịnh vượng. Sau đó Chân Lạp bị thu bé dần vì các nhà nước nhỏ tách ra độc lập. Cho đến đầu thiên niên kỷ thứ 2, thì Thái Lan đã thành lập chiếm đóng phần lớn đất của Phù Nam cũ. Thái Lan và Lào đều xưng là hậu duệ của Nam Chiếu-Đại Lý-Ai Lao. Tông tộc còn nghi ngờ, nhưng chắc chắn trước đây thủy tổ của họ không là con cháu cũng là là chư hầu của các nước trên. Mặt khác, vương quốc Ăng Co của Campuchia cũng bị Chiêm Thành tiêu diệt vào thời điểm đạo Phật Nam Tông thối nát, các nước theo đạo Phật này suy yếu vì xây dựng các đền đài cung điện, dần bị đạo Hồi và đạo Ấn Độ xâm chiếm.
Chiêm Thành nhiều lần đánh nhau với Ta và chủ yếu là họ ra cướp của, chắc mọi người còn nhớ Thăng Long thất thủ. Lúc Trần suy yếu, người Chiêm Thành còn ra khai phá cả miền mới bồi Thái Bình. Cũng vì tốc độ bồi ở đất họ chậm hơn ta nên ta tiến nhanh hơn họ và thôn tính họ. Chiêm Thành cũng không ngừng mở rộng, chia ly rồi lại thống nhất. Sau khi đánh Minh, Chiêm Thành vẫn ra quấy ta, rồi xin cầu viện Minh để hai mặt cùng đánh. Năm 1470 Lê Thánh Thông phải ngự giá thân chinh, từ đây Chiêm Thành suy yếu. Phần đất giữa Thạch Bi-Cù Mông lúc này không thuộc các vương quốc Chăm Pa nhưng họ vẫn khai thác, do bên Việt nội loạn. 40 năm sau, Nguyễn Hoàng bắt đầu vào Quảng Trị, đầu tiên ông lấn đất Phú Yên chính là vùng đất trung gian Cù Mông-Thạch Bi. Chúa Nguyễn và các vương triều Chăm Pa giao hảo quan hệ tốt cho đến 165x. 165x Chăm Pa phát binh đánh Nguyễn, thua chạy mất đất từ sông Phan Rang trở ra. 169x thì hai bên đánh nhau to, cũng là Chiêm Thành đánh trước, cả hai bên đều thiệt hại nặng. Sau trận chiến này chúa Nguyện lập ra Trấn Thuận Thành, cho người Chiêm Thành làm vương, cai quản các dân tộc thiểu số Tây Nguyên-Nam Trung Bộ. Đến lúc này thì cái gọi là nước Chiêm Thành còn rất bé nhỏ, lu mờ dần trước các đợt di dân khai hoang vùng châu thổ sông Mê Kông hoang vu rộng lớn. Từ đây, dân Chăm Pa và các dân tộc khác dần dần biên theo tên kiểu Kinh, để vào sổ người Kinh, cùng với người Kinh vốn thạo khai hoang đồng bằng hơn... tiến xuống khai phá Tây Nam Bộ vẫn phần lớn là hoang vu. Thuận Thành bao gồm Ninh Thuận, Bình Thuận Nam Tây Nguyên ngày nay, đơn vị hành chính này tồn tại đến năm 1893 thì thành các tỉnh bình thường.
Biên giới Chân Lạp cũ là Tây Ninh, Bà Rịa, Đồng Nai... còn hất lại phía bắc là đất cũ Chiêm Thành.
Phần lớn các vương triều Chiêm Thành và Chân Lạp đều suy yếu vì nội loạn. Trong khi đó, chúa Nguyễn chủ động kết thân bằng gả con gái cho các vương triều này như chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con cho vua Chiêm Pô Rome (ở ngôi 1627 - 1651). Sau các nội loạn đó, thì chúa Nguyễn bênh vực con cháu của mình, cũng như các vương triều dâng đất đến ơn cứu viện... Những chuyện thâm cung đó diễn ra theo xu thế đương nhiên, khi và các dân tộc này bỏ tên tuổi dân tộc mình để đi theo người Việt khai hoang. Sang thế kỷ 18 thì Chiêm Thành - Chăm Pa còn rất bé. Thậm chí đến nay, về lý thuyết, thì nước Chiêm Thành vẫn còn, được nhà nước ta mỗi năm cấp cho 18 tấn thóc để thờ ấn kiếm. Nếu nói về công lao thôn tính Chiêm Thành thì công đầu là Lê Thánh Tông. Nếu nói về nguyên nhân nước Chiêm Thành biến mất thì đó là nội loạn, trong các cuộc tranh giành quyền lực liên miên họ cướp phá Việt, dẫn đến chiến tranh và suy vong. Còn nếu nói nguyên nhân sâu xa, thì Chiêm Thành bị chặn bởi Chân Lạp, không khai phá được Mê Công, nên không phát triển được như Việt, khi Việt lớn lên cùng châu thổ sông Hồng. Ở góc độ khác, thì các vương triều Chiêm Thành không nhìn thấy tầm quan trọng của mở rộng biên giới xuống đồng bằng, nên họ có đánh được Ăng Co, thì cũng chỉ biết bắt nô lệ và cướp của về xây đền đài cung điện, trình độ làm vua còn thiển cận một trời một vựa so với triều đình Việt.
Với Chân Lạp (Campuchia, Campu là Campuchia còn Campa là Chiêm Thành Chăm Pa). Có thể mô tả thế này qua lịch sử thành phố Hồ Chí Minh. Nhắc lại là, phần lớn Đồng Bằng Nam Bộ là đất hoang, lúc đó phần Chân Lạp nằm trong bản đồ nước ta ngày nay chỉ có có thể kể đến Sài Gòn-Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang. Trong đó An Gianh là ốc đảo cách biệt, chỉ có Sài Gòn-Hồ Chí Minh, Tây Ninh là liền với Chân Lạp. Thủ Đô Chân Lạp là Ou-đông (Oudong) gần Ph-nông-pênh ngày nay. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con cho vua Chân Lạp Chey Chettha II. Từ đây, Chúa Nguyễn xin được đặt một trạm thu thuế ở đất ngày nay là Sài Gòn vì các thuyền buôn Việt thường vào đó buôn bán. Cũng như việc đó là một số người Việt đi theo Hoàng Hậu Chân Lạp làm quan trong triều Chân Lạp. Sau này có nội loạn ở Chân Lạp liên miên, đầu tiên cháu ngoại chúa Nguyễn là Chan Ponhea Sô, là người thừa kế Chey Chettha II, bị giết khi mới ở ngôi 2 năm, chú ruột giết cháu. Sau đó các thế lực tranh nhau ngôi báu này liên miên đến 168x. Vậy nên Chúa Nguyễn nhiều lần theo lời cầu viện can thiệp. Như năm 1658 chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đánh bắt vua Chân Lạp Nặc Ông Chân, vì Nặc Ông Chân lúc đó bỏ quốc giáo theo đạo hồi mất lòng giới chính trị. Hai anh em Nặc Ông Tân và Sô cầu cứu chúa Nguyễn. Sau khi bắt Nặc Ông Chân , chúa Nguyễn lập Sô lấy hiệu Batom Reachea làm vua Chân Lạp. Vì quan hệ này nên Việt-CHân Lạp hữu hảo, người Việt di khai hoang thuận tiện. Sau đó Chey Chetta III giết chết Batom Reachea, em là Nặc Ông Tân lại sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng phái Nặc Ông Chân giết chết Chey Chetta III. Người Xiêm nhân loạn đưa con Batom Reachea là Nặc Ông Đài lên ngôi, chống lại chú và chúa Nguyễn. Nặc ông Tân và Nặc Ông Nộn lại cầu cứu. Sai khi Đài chết, Chúa Nguyễn chia Chân Lạp ra làm đôi, Nặc Ông Thu đóng đô ở Ph-nông-pênh (Nam Vang), Nặc Ông Nộn đóng đô ở Sài Côn (TP Hồ Chí Minh ngày nay). Như thế, Chúa Nguyễn lấy một phần nước Chân Lạp chỉ là lấy phần thâm cung, còn phần tự nhiên thì dân Việt đã đi khai hoang kéo theo cả Chàm lẫn Cam .
Và cái phần lấy được đó thì cũng là một phần nhỏ của cháu ngoại chúa Sãi là Chan Ponhea Sô, đã bị giết sau 2 năm ở ngôi vua Chân Lạp. Thực chất, nếu như Chúa Nguyễn muốn báo thù hay xâm lược đòi đất, thì Chúa đã đánh lấy cả đất Chân Lạp vốn là của cháu ngoại, dựng lên dăm ông vua bù nhìn, chia Chân Lạp ra dăm ba nước, tha hồ. Trong thực tế, chỉ đến gần đây gia tộc Nguyễn mới công bố các vị Hoàng Hậu và cháu ngoại này, khớp với lịch sử Chăm-Chân, vì Chúa Nguyễn không muốn làm như vậy.
Một số vùng cụ thể có thể có lịch sử khác, như Đồng Nai có Cù Lao Phố. Cù lao này do viên tướng Minh Trần Thượng Xuyên không khuất nhà Thanh đem binh lính dưới quyền cùng gia đình đến khai hoang năm 1679. Ban đầu, Xuyên vào đầu hàng nhà Chúa ở Thuận Hóa, sau đó Chúa cho cù lao này để làm ăn, buôn bán rất phát đạt.
Năm 1623, chúa Nguyễn sai một đoàn sứ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Lập đồn thu thuế vì đây là cửa ngõ buôn bán-di cư của người Việt đến các vùng thuộc Xiêm và Chân Lạp. Đây là bước đi quan trọng ngăn sự bành trướng ảnh hưởng của Đông Ấn Hòa Lan, công ty thực dân, mà chủ yếu gây sức ép là Hà Lan và Bồ Đào Nha ở Indonexia và Ma Cao. Đông Ấn Hòa Lan cử đại sứ hòa bình đến Chân Lạp năm 1620, năm 1623 mở thương điếm trên cảng sông gần thủ đô Chân Lạp. Tuy nhiên, sau đó bộ mặt thực dân ăn cướp dần dần lộ rõ. Cho đến năm 1643 Đông Ấn Hòa Lan nhiều lần liên kết với Trịnh ăn cướp giết người ven biển Nguyễn, sau đó bị đánh bại, và không muốn gây ảnh hưởng tiếp ở vùng này. Cũng vì thế mà người Nhật cạnh tranh và nổi lên ở Hội An. Bước đi lập đồn thu thuế này khởi đầu cho Gia Định-Sài Gòn, tránh cho Chân Lạp khỏi kiểu thực dân cướp bóc cực kỳ dã man kiểu Bồ Đào Nha hồi đó. Sau đó như trên, Chúa Nguyễn lập Nặc Ông Nộn là Phó Vương đóng đô ở Sài Gòn.
Đến năm 1698 thì Lễ Hầu Nguyễn Hữu Cảnh lập trấn Gia Định (Tp HCM và các vùng xung quanh). Nửa sau tk17 vùng này đã được khai hoang đông đúc, nên việc thành lập trấn này thuận lợi. Việc lập trấn này đánh dấu chính thức thành lập miền Đông Nam Bộ. Việc thành lập trấn này thuận lợi lại mở đường tiến sâu xuống miền Tây Nam Bộ vốn vẫn hoang vu và ngập nước mùa lũ, khó khai hoang nhất. Phần lớn dân cư đến Tây Nam Bộ trong thế kỷ 18. Từ đó cho đến sau này, các nước Chiêm Thành và Đông Chân Lạp càng ngày càng ít dân theo, dần dần trở thành những triều đình mang tính thờ tự được Chúa Nguyễn cấp đất phong (về sau chính quyền CHXHCNVN quy ra gạo vì Hiến Pháp mới không công nhận đất phong).
Trong thế kỷ 18, khi người Việt khai phá đồng bằng miền Tây Nam Bộ, thì đất này trở nên trù phú, đông dân. Các vương triều Chân Lạp mâu thuẫn đã nhiều lần có ý muốn chén món cỗ ngon mới có đó. Vì vậy, có một số cuộc xung đột lẻ tẻ, đặc biệt là khi có những xúi bẩy các thế lực tranh đoạt trong triều đình Chân Lạp, như Xiêm, Pháp... và các nước khác, để hòng chiếm ngôi vua Chân Lạp. Nhưng bản chất phần phải thuộc về Việt Nam, kể cả là dòng máu Hoàng Tộc cũng như công lao mở đất.
Có thể nói đến sự suy yếu của Chân Lạp thế này. Trình độ sản xuất của họ không cao, nên khi các đồng bằng nổi lên khỏi mặt biển họ không lớn được. Đến nay vẫn không biết đắp đê, trong khi xây xựng đền đài tốn kém. Như thế, trước bị Chăm Pa tàn phá, sau dân bỏ theo dân Kinh...
Có thể nói về sự sát nhập của Chăm-Chân như vậy, dân của họ đã tự nguyện bỏ dân tộc, theo tên Kinh, họ Kinh... Toàn bộ đồng bào đã khai phá được Tây Nam Bộ cho nhiều thóc lúa hơn nhiều lần cả Chân Lạp và Chiêm Thành cũ cộng lại. Và đó là sự phát triển vượt bậc.
Cũng có thể kết luận thế này., nước Việt Nam lớn mạnh bởi vì trình độ làm nông nghiệp, từ giống lúa giống khoai, giống chó giống gà... cho đến trình độ đắp đế trị thủy khai hoang. Cái trình độ đó là sản phẩm của đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống đê vĩ đại. Dân ta không đắp Vạn Lý Trường Thành, không xây Ăng Co, mà đắp đê.
Lịch sử Tây Nam Bộ (từ Sài Gòn về Nam) không phải Việt thôn tính của ai cả. Thực tế, chính là người Việt thôn tính ông trời, tức khai hoang. Trước đó, các vùng có dân ở tại Tây Nam Bộ rất thưa thớt, ví như miền Bảy Núi ở Nam Bộ xa lắc xa lơ như hòn đảo giữa đầm lầy, mùa nước bị cách ly. Các vùng cách ly đó không an toàn và đương nhiên nếu có dân ở cũng rất thưa thớt là lạc hậu. Cho đến nay mùa nước nổi vẫn ngập nước thì dân ở với cá. Không cần đâu xa, chỉ cần nhìn Tây Nam Bộ trước 1975 đủ thấy. Như thế, bản chất của sự việc Việt Nam mở rộng xuống đồng bằng Mê Công Tây Nam Bộ là khai hoang, tăng sản lượng lúa, làm đông dân. Lực lượng khai hoang là người Việt dẫn đầu nhưng số lượng ít, đi theo là đông đảo người Chân Lạp-Chiêm Thành đã đổi họ tên để biên vào sổ người Việt. Những người khai hoang hòa nhập các nhóm dân nhỏ của Chiêm Thành, Chân Lạp và các nhóm dân khác vẫn sống thưa thớt ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Khi mới di cư vào Nam, chúa Nguyễn mang đi rất ít quân dân, thậm chí khi thắng trận với chúa Trịnh, thì chúa Nguyễn Nguyễn phải di dân bốn huyện phía nam đất nhà Trịnh vào Nam. Chính vì thiếu dân như thế nên các Nguyễn đồng hóa dân bản địa Chiêm Thành-Chân Lạp bằng cách đổi họ tên sang họ tên Việt, biên chữ Hán-Việt, để tăng nhanh dân số khai hoang (ví như họ Nguyễn để biên dân Chiêm hay họ Thạch để biên dân Khơ-me). Các giống dân này vốn sống trong các điều kiện khắc nghiệt, như các đồng bằng miền Trung hay vùng ngập nước Mê Kông, khi tiếp xúc với trình độ quai đê lấn biển của người Việt đã tự nguyện đi theo. Từ đó đồng bào anh em đã khai thác được vùng đồng bằng trù phú nhất nước trong các thế kỷ 17-18-19, mà trước đây hầu như bỏ hoang.
Việc lấn biển thực hiện y như chúng ta đã tiến từ Phú Thọ đến Thái Bình. Ban đầu dân Chiêm Thành Chân Lạp sống trong những chân núi như Phú Thọ 4 ngàn năm trước, hay một số đảo nổi cao lên giữa sông biển như vùng Đông Bắc Thái Bình 2 ngàn năm trước. Người Việt ban đầu cũng thích dịnh cư ở các vùng cửa sông hiếm khi bị lũ mùa. Từ đây, cùng với người Việt, đồng bào anh em đắp các đê nhỏ như bờ vùng bờ thử, giữ đất bồi, dần dần lấn hết đồng bằng.
4:11 . Cái clip kia cũng đánh đồng công mở đất của các Chúa Nguyễn và đám vua Nguyễn bán nước khởi đầu từ Nguyễn Ánh "công của 13 vua triều nguyễn". Có lẽ cái clip đó và ông Dương Trung Quốc, ông Lê Văn Lan muôn phong anh hùng mở đất cho những Bảo Đại, Khải Định, Nguyễn Ánh...
Từ sau khi Lê Lợi khởi nghĩ, đến Lê Thánh Tông dẹp các mầm phản loạn bên Lào, sát nhật Bồn Man, thì chúng ta và Lào quan hệ hữu hảo. Điều này cạnh tranh với Xiêm. Xiêm đã nhiều lần gây chiến tranh với các nước Lào, Chân Lạp, cũng như ủng hộ các phe phái chống ta ở đó. Nhưng bán nước Lào lớn nhất là Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh đã nhờ Pháp và XIêm , tranh thủ lúc Tây Sơn có nội loạn đánh úp, tiêu diệt tận gốc rễ các thế lực yêu nước và tiến bộ, làm thui chọt dòng máu anh hùng, sau đó bế quan tỏa cảng làm đất nước lạc hậu. Từ lúc mới thành lập, nhà Nguyễn liên miên bị khởi nghĩa và nhanh chóng mất nước vào thay thực dân. Với Lào, để trả ơn Xiêm, Nguyễn Anh đã bật đèn xanh cho Xiêm đanh chiếm hơn một nửa nước, phần trù phú nhất của Lào, ở bên kia bờ tây sông Mê Công. Nước Lào ngày nay chỉ còn là phần núi non hiểm trở nhỏ bé. Cuộc chiến tranh này đã tàn phá tan nát nước Lào, hàng trăm ngàn nô lệ bị bắt về Thái Lan cùng với những bảo vật và vàng bạc châu báu. Sau đó, một số bộ tộc Lào đầu hàng Nguyễn để mong nương nhờ, Nguyễn nhân đó chiếm đất giết chủ (tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội, Minh Mệnh, Đại Việt Địa Dư Toàn Biên Nguyễn Văn Siêu).
Sau khi Pháp chiếm Việt Nam, thì phần đất đổi cho Tầu lấy quyền làm đường sắt ở Hà Giang và Tụ Long chỉ là nhỏ. Phần đất lớn nhất mà chúng ta mất là Trấn Biên, Trấn Ninh....(tránh nhầm vì wiki, cái bản đồ tronglink này là bố láo khếch đại, thực chất đất của ta chỉ ven sông núi Trường Sơn, không đến mức ăn hết cả bờ sông Mê Công vùng Trung Lào , ăn cả Viên Chăn. Dễ nhận thấy, bản đồ này là bản đồ sau hiệp định Geneva năm 1954 với vùng đệm phi quân sự vĩ tuyến 17, được điền thêm các tên cổ vào, và gọi là bản đồ thế kỷ 19).
Pháp chia Lào-Việt theo đường sống núi để tiện quản lý, như thế toàn bộ Tây Trường Sơn của ta cắt cho Lào. Vùng này khá lớn bao gồm hầu hết Nam Lào. Hai vùng lớn nhất là Trấn Ninh và Trấn Biên. Trấn Biên là cái mồm Thanh Hóa-Sơn La, còn Trấn Ninh là phía Tây Trường Sơn kéo từ Nghệ An vào Quảng Bình. Ngoài ra còn một số đơn vị hành chính nữa nằm ven Trường Sơn.
Rõ ràng là, chúng ta gánh vác vai trò chủ lực trong kháng chiến, nhưng chúng ta đã không hề có một chút ý định xác lập lại bản đồ của cha ông từ thời Lê Thánh Tông.
Đó là vắn tắt về 13 vua nhà Nguyễn, họ đã làm Việt Nam mất diện tích Tây Trường Sơn lớn hơn cả đồng bằng Bắc Bộ, làm bạn Lào mất phần lớn lãnh thổ và dân số, đó là ngày nay. Các vua Nguyễn làm đất nước ta nô lệ lầm than 80 năm và kết thúc bằng nạn đói và hai cuộc chiến tranh. Đó là công lao của các vua Nguyễn mà Dương Trung Quốc và đám ranh con muốn la liếm.
Mình nhắc lại là, toàn bộ clip không có đoạn nào là không xuyên tạc. Xuyên tạc vô ý thức thì chỉ là clip nhảm nhí đầy trên mạng. Nhưng đây là clip xuyên tạc vu khống Việt Nam xâm lược. Điều vu khống nhậy cảm trong trình trạng tranh chấp biển đảo đang gia tăng, là clip dám bẻ ngược 180 độ lịch sử, vu không chúng ta dựa thế Pháp xâm lược Điện Biên Lai Châu của Tầu Khựa theo hiệp ước 1897. Trong thực tế ngược lại, theo hiệp ước này chúng ta mất mỏ đồng Tụ Long và 10 xã biên giới Quảng Ninh, mất cả con sông mà người Tầu gọi là An Nam Giang.
Một clip như thế tung lên mạng lúc này không bị ném đá là điều lạ. Điều thần kỳ đó chỉ có thể có được bởi Dương Trung Quốc, Lê Văn Lan...
Nguyễn Mạnh Hùng
Chỉ riêng phần đầu nói đến Điện Biên Lai Châu là của Tàu được Tàu nhượng lại cho VN theo hiệp ước Pháp - Thanh 1887 là hoàn toàn láo xược.
Dưới đây là bài mình sưu tầm được. Gửi các bạn cùng xem.
Sao lại có dạng nhà sử học đi xuyên tạc lịch sử ? Sao lại có loại nghị sỹ phản quốc bồi lưỡi bồi mõm thuê cho giặc cướp lãnh thổ ta ? Chẳng lẽ ông Dương Trung Quốc không biết nguồn gốc vùng Tây Bắc, về hiệp ước Pháp Thanh cắt mỏ đồng Tụ Long cho Trung Quốc đổi lấy quyền làm đường sắt Vân Nam? Tại sao ông Quốc có thể xuyên tạc ngược 180 độ rằng, hiệp ước Pháp -Thanh 1887 là Việt Nam mượn thế Pháp xâm lược Lai Châu Điện Biên, trước đó của Trung Quốc?
Cái nguy hiểm là clip làm rất hấp dẫn với trẻ con. Nội dung của nó là xuyên tạc lịch sử, biến chúng ta thành kẻ chuyên đi xâm lược, trong khi phần lớn lịch sử của cúng ta là bị đô hộ. Chúng ta bắt nạt kẻ yếu nhưng lại bị kẻ mạnh làm nhục.
Sự thật ở sau điều này là gì ? thiên hạ đầy rẫy những trẻ con ngu dốt đần độn mà thích được làm người nổi tiếng.
Một clip nhố nhăng trên nét là chuyện thường. Nhưng tại sao Dương Trung Quốc phải nổ đến đoạn "sock cả bộ"? Clip sai rất dễ thấy đến trẻ con học phổ thông cũng biết, tại sao những 2 "nhà sử học" lăng xê nó ? Riêng Dương Trung Quốc có ý kiến hơi có vẻ chùn để dễ thoát vạ miệng sau này, nhưng ông ta chỉ lo đến thời điểm năm tháng có thể nhầm, không hề phát biểu rằng đây là clip phản quốc. Tức là threo toàn bộ các nhà sử học này, không kể thời điểm có thể nhầm, thì nội dung clip là chính xác.
Sự thật là, toàn bộ clip là xuyên tạc lịch sử, phản quốc. Trong đó mở đầu là đoạn xuyên tạc ngược 180 độ lịch sử.
Đầu tiên là xem cái nguồn nào đã được nhét vào cái clip này.
Ví dụ một đoạn.
"Lãnh thổ Việt Nam thời kỳ đầu độc lập bao gồm khu vực Bắc Bộ và 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, tương đương với lãnh thổ cũ nước Văn Lang của các vua Hùng
Sáp nhập Tây-Bắc
Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sát nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.
Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.
Năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man của người Thái đã sát nhập vùng Sơn La, các huyện phía tây Thanh Hóa, Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Việt."
Chúng ta có thể xem chính sử để rõ chuyện quốc gia đại sự, và là chuyện thắng trận, nên không thể không ghi. Cũng lạ là một nghị sỹ, lại xưng là nhà sử học, mà Dương Trung Quốc có thể cãi cả chính sử. Xưng là "nhà sử học", nhưng Dương Trung Quốc và Ngô Văn Lan đem thứ rác rưởi như wiki cãi cả chính sử, bịa đặt sự kiện.
Chuyện này cũng liên quan đến nhà Tống, nên không thể ghi bậy. Không hề có chuyện sát nhập hay mất cái gì cả. Giặc đánh vào châu Bình Lâm của ta, là huyện Vị Xuyên, huyện cửa khẩu sông Lô của Hà Giang, tức là lúc đó Hà Giang thuộc về nước ta. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Vnthuquan, Bản Kỷ Toàn Thư Q2(a) (chép năm 1014 Đoàn Kính Chí), Bản Kỷ Toàn Thư Q2(b) (có chú thích 390-391 của đoạn này).
"Giáp Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 5 [1014] , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 7). Mùa xuân, tháng giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa. Châu mục châu Bình Lâm390 là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương391 đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi [7a] bọn Chân vào ra mắt ở điện Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhau."
Ngay từ 1:46, mục có tư liệu lịch sử đầu tiên là cương thổ nhà Lý. "lãnh thổ nước ta bao gồm đồng bằng bắc bộ, và ba tỉnh, thanh hóa, nghệ an, hà tĩnh"... mình không cần biết điều đó đúng hay sai, mà bản đồ tô cả lạnh sơn, quảng ninh, tuyên quang, cao bằng... đều đồng bằng bắc bộ hết.
Câu nối tiếp "diện tích lãnh thổ lúc này cũng tương đương với nước văn lang khoảng 500 năm trước công nguyên". Trời đất, Văn Lang có ghi lại bản đồ cương thổ ? Thế hồi đó Âu Việt ở đâu, Lạc Việt ở đâu, sau khi thống nhất thì Âu Lạc ở đâu. Cho đến giờ, các nhà sử học đều thống nhất cơ cấu nhà nước thời Văn Lang-Âu Lạc, như thời thành bang bên Âu. Đó là các bộ lạc tôn sùng một bộ lạc đứng đầu. Vùng ảnh hưởng của Văn Lang-Âu Lạc bao trùm đến Trung Quốc và Thái Lan.
2:26. Tuyên Quang, Hà Giang là thuộc Tây Bắc, do nhà Lý đánh chiếm của Đoàn Chính Khí. Dương Trung Quốc ơi là Dương Trung Quốc, Hà Tuyên là thuộc miền Đông Bắc, mặc dù nó ở hướng chính bắc. Có thể lấy Hoàng Liên Sơn chia ra thì Lào Cai Yên Bái là Đông. Có thể lấy sông Hồng chia thì Lào Cai Yên Bái là Tây, nhưng Hà Tuyên bao giờ cũng là Đông Bắc.
Ngoài địa lý, vấn đề lịch sử này cũng sai. Không phải đến thời Lý vua Lý mới xâm lược Hà Giang, Lào Cai của Đại Lý. Đại Lý ở tận đất Điền bên Trung Quốc cơ, đó là vùng đầu nguồn sông Trường Giang. Chỉ đến khi Nam Chiếu và nối sau là Đại Lý mạnh lên vào thế kỷ thứ 8, thì Đại Lý mới xâm lược Đại Việt thời Cao Biền, và cũng đo co vòi chạy xa từ thời đó rồi. Lào Cai thuộc về Việt Nam từ thời Hùng Vương, Văn Lang, Âu Lạc, với các tên địa danh và bộ tộc như Tân Hưng, Tây Vu..., chứ không phải quân ta xâm lược Lào Cai của Đại Lý vào thời Lý. Lào Cai đầu thời Bắc thuộc, thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Sau thuộc là quận Tân Hưng, đất Giao Châu thời Tây Tấn. Sau là đất các châu Đan Đường, Chu Quý thuộc Giao Chỉ vào thời Tùy. Tiếp theo đổi là Lâm Tây châu, Đức Hóa châu thuộc phủ An Nam thời Đường. Vào các thời họ Khúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê, đầu Lý thì vẫn thuộc Đạo Lâm Tây. Sau cuối Lý đổi là Đăng Châu, sang Trần là Quy Hóa.
Trong lịch sử dựng nước giữ nước, chúng ta đã bị lấn nhiều đất thuộc Lào Cai. Các nhà sử học đều công nhận rằng, ranh giới Giao Chỉ thời Bắc Thuộc và Âu Lạc, Văn Lang.... lên đến Khâm Châu nay thuộc Trung Quốc.
Ngoài ra, Chăm Pa trước đây cũng thuộc Giao Chỉ là huyện Tượng Lâm, kéo từ Đèo Ngang đến Đèo Hải Vân (Quảng Bình - Quảng Trị - Huế). Lúc Hán thôn tính Nam Việt thì chưa có huyện này, về sau các quan cai trị nhà Hán mới thôn tính. Sau này tách ra đặt tên nước là Campa (Chăm Pa) và phát triển đến Quảng Nam, Trung Quốc gọi là Lâm Ấp. Cổ sử ta thời Văn Lang Âu Lạc viết chữ giun kiểu Ấn Độ, gồm nhiều bộ lạc đứng đầu là Hùng Vương và các vua sau, anh em với Phù Nam-Chân Lạp-Campuchia, Chăm Pa, Nam Chiếu-Đại Lý-Ai Lao-Thái Lan-Lào...
Sau khi thôn tính Nam Việt nhà họ Triệu và lấn thêm phía nam, nhà Hán chia Âu Lạc cũ ra thành các quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân ( Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình, Quảng Trị, Huế). Ba quận này cũng với các quận khác là Hợp Phố - Nam Hải (Quảng Đông), Chu Nhai - Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) , Uất Lâm - Thương Ngô (Quảng Tây), là những quận thuộc về Nam Việt cũ. Ngoài Quận-Huyện có tên Giao Chỉ, còn có đơn vị hành chính to hơn là Bộ Giao Chỉ cai quản các vùng trên, trùng tên nên dễ nhầm. Bộ Giao Chỉ sau này hay được gọi là Giao Châu.
Cần nhắc rằng, người Trung Quốc chỉ cai trị được những vùng đồng bằng, còn miền núi Giao Chỉ chỉ đánh thuế được những thung lũng lớn hay thuận tiện đi lại. Uất Lâm ở Quảng Tây là lãnh thổ giáp Giao Chỉ, coi là biên giới Giao Chỉ, ngày nay là sông Uất (Uất Giang) ở Quảng Tây. Như thế, lãnh thổ Giao Chỉ còn ăn sang Quảng Tây rất nhiều so với thời ta độc lập (như Lý). Và ta ngày nay cũng bị co Lào Cai vào rất nhiều so với thời Lê-Minh.
2:56. Đến đây thì tởm lợm cái clip này và kẻ la liếm lăng xê nó là Dương Trung Quốc, la liếm đến đặt câu "clip lịch sử gây sock bộ giáo dục". Đúng là sốc thật, nhưng mà sốc về một nghị sỹ Dương Trung Quốc xưng là nhà sử học, mà ngu dốt đến mức thậm chí dạy trả con phản quốc. "Các tỉnh Tây Bắc Điện Biên Lai Châu được Trung Quốc cắt về nước ta sau hiệp ước Pháp Thanh 1887". Vậy là đã rõ, clip này có nội dung làm xói mòn lòng yêu nước, yêu non sông của trẻ con, và đặc biệt là phá hoại tinh thần bảo vệ tổ quốc trước Trung Quốc từ thơ ấu. Nguồn gốc những clip loại này cũng như hộ chiếu Trung Quốc in hình lưỡi bò, hay sách trẻ con đánh vần in hình cờ Trung Quốc, và không chỉ một vài đầu sách, không chỉ đầu sách nhập bản quyền từ Trung Quốc, vì Trung Quốc chữ vuông không đánh vần và không đánh vần tiếng Việt. Như vậy, cùng với hộ chiếu in hình lưỡi bò, đầu tháng 3-2013 có cả một chiến dịch, và khởi đầu chiến dịch đó là Dương Trung Quốc dùng báo giáo dục Việt Nam la liếm lăng xê những tác phẩm này của Trung Quốc, lừa đảo từ tuổi thơ ấu đánh vần.
Điện Biên - Lai Châu , trước thuộc tỉnh Lai Châu, là 2 trong số 6 châu lệ thuộc Việt Nam từ thời Lê, nhà Mạc dâng gần hết cho Trung Quốc để đế quốc bảo hộ. Nhà Mạc dâng 4 trong số 6 châu, 4 châu đó là: Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, các hủ nho về sau có nói là trả lại. Thật ra, đó là các quốc gia độc lập tương đối, mạnh bên nào thì theo bên đó, trước đó Đại Lý bị nhà Minh diệt, ta mất nước, thì các châu đó theo Minh. Khi ta độc lập, họ đã theo ta vì ta gần hơn, bán nước là bán nước, làm gì có nguỵ biện. Còn vùng Lai Châu thì là 2 động còn lại, toàn thuộc về ta, làm gì có của Trung Quốc mà nhà Thanh bán cho ta.
Lai châu trước thuộc đơn vị hành chính Hưng Hóa, cuối thời Nguyễn là một tỉnh, có đô thành Hưng Hóa hiện trên đất Phú Thọ. Đơn vị hành chính này có thể có các tên "đạo thừa tuyên Hưng Hóa" (Lê, Tháng 6 âm lịch Năm Quang Thuận thứ bảy 1466, vua Lê Thánh Tông chia nước thành 13 đạo thừa tuyên, Hưng Hóa là một trong 13 đơn vị hành chính đó), "trấn Hưng Hóa" ( Lê Trung hưng), hay là tỉnh (Nguyễn). Ngày 10 tháng 4 năm 1884 (tức 15 tháng 3 âm lịch), ở đây có trận chiến quân Pháp đánh thành quân ta do Hoàng Kế Viêm và Nguyễn Quang Bích cùng quân Cờ Đen giữ. Nếu như kể đến nhà Nguyễn thì có sách Hưng Hóa Kỷ Lược của Phạm Thận Duật, người Ninh Bình, viết năm 1856 khi làm chức Tri châu Tuần Giáo. Theo Hưng Hóa Kỷ Lược, Hưng Hóa giáp với các nước Nam Chưởng và Xa Lý, nay là các tỉnh Luông-pha-băng (Louangphabang) và Phoong-sa-lì (Phongsali) bên Lào. Trong đó Phoong-sa-lì là tỉnh cực bắc Lào, giáp ngã ba biên giới Lào-Việt-Trung, ở ba tỉnh Phongsali-Lai Châu-Vân Nam. Như thế Hưng Hóa Kỷ Lược nói rằng: Lai Châu ngày nay là thuộc đất Hưng Hóa đó. Cũng theo sách đó, một số đơn vị hành chính trực thuộc Hưng Hóa vẫn còn đến ngày nay và thuộc về Lai Châu-Điện Biên. Như Lai (châu Lai, viết tiếng Hán là Lai Châu thành tên đến nay), Tuần Giáo (một huyện của thành phố Điện Biên ngày nay), Ninh Biên ( thung lũng Điện Biên Phủ, thành phố Điện Biên ngày nay ), Quỳnh Nhai (huyện thuộc Sơn La ngày nay, giáp Lai Châu và Điện Biên ngày nay).
Sử rõ ràng như thế, và câu chuyện về Lai Châu không phải là không nổi tiếng, nhưng ông Dương Trung Quốc và nhiều người khác có thể nói Lai Châu là đất Trung Quốc. Lai Châu và Điện Biên do ta mượn thế quân Pháp cướp lấy của Trung Quốc. Nhất là trong bối cảnh biển đảo hôm nay. Nhắc lại là, cùng la liếm vụ này với "nhà sử học Dương Trung Quốc" là "nhà Sử học Lê Văn Lan".
Hiệp Ước Pháp Thanh năm 1887 (Điều ước Constans 1887) là điều khoản thi hành của Hòa ước Thiên Tân 1885. Constans 1887 có nội dung chính là. Pháp lợi 2 điểm, Thanh ngừng chống Pháp ở Bắc Bộ (thực chất quân Thanh tống quân Cờ Đen là loạn đảng đã đầu hàng sang ta để mượn Pháp tiêu diệt dần, về sau quan Cờ Đen hết đường về hòa nhập với dân Bắc Bộ), Pháp được xây tuyến đường sắt Vân Nam. Đổi lại, điều khoản thứ 3 là ta cắt mỏ đồng Tụ Long (Hà Giang) và 10 xã Quảng Ninh về cho Trung Quốc. Một hiệp ước mất nước như thế mà Dương Trung Quốc dám là liếm xuyên tạc 180 độ, thành ta xâm lược Trung Quốc. Các điều ước này có nội dung đã copy lên wiki và mình dã kiểm tra lại (nhưng wiki rất dễ bị đổi, mình láy linh này vì hiện ko còn link nào khác, sau này mình sẽ sửa, có cái link này nhưng mình chưa có thời gian kiểm tra vì tên địa danh chuối quá-link của Tầu Khựa). Bản đồ vùng 10 xã Quảng Ninh bị cắt. Bản đồ cũ, địa giới Bắc Kỳ năm 1879, tức tám năm trước Công ước Pháp Thanh lấy sông Dương Hà (sông An Nam Giang) làm biên giới giữa tỉnh Quảng Yên và tỉnh Quảng Đông. Sau năm 1887 thì biên giới chuyển xuống phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới. Con sông biên giới trước đây người Tầu gọi là An Nam Giang nay đã hoàn toàn nằm trong đất Trung Quốc.
2:50 "Sơn La là vua lý sát nhập Bồn Man" Chỉ có wiki hay Dương Trung Quốc, "nhà Sử học Lê Văn Lan"... mới có thể chế ra loại này. Sơn La mình đã nói trên, thuộc về Hưng Hóa. Còn Bồn Man là một vương quốc của người Lào ở phía Nam, không liên quan gì đến Sơn La. Bồn Man sát nhập vào Việt trước sức ép của các vương quốc khác bên Lào, vua Lê cho tự trị, họ Cầm làm phụ đạo, sau đổi ra chức tuyên úy. Vùng đất đó là Quỳ Hợp của Nghệ An ngày nay (tên cũ là quy hợp, quay về sát nhập). Liên quan đến sơn la cái lờ mợ tiên sư cả dây nhà lợn. Hay là ngày xưa Nghệ An ở cạnh Lai Châu rồi trôi ra đây. (Đại Việt Sử Lý Toàn Thư nói đến Bồn Man ở các đời Lê Thái Tổ Lê Lợi, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông).
Về việc Việt Nam xâm chiếm Campuchia trong clip, mình thấy gõ dài quá, copy một chút link đã dẫn:
"Tuy nhiên, PGS Mền cho rằng cần chỉnh sửa hai điểm cho chính xác. Đó là khu vực Nam Bộ trong clip nói rằng vùng đất này trước khi chúa Nguyễn Hoàng (1558-1612) vào mở rộng là đất thuộc Campuchia, điều đó không đúng với lịch sử. Từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, vùng đất Nam Bộ thuộc vương quốc Phù Nam.
Là quốc gia ven biển, lãnh thổ Phù Nam rất rộng lớn, bao gồm vùng đất Campuchia, phía Nam Việt Nam, Đông Nam và phía Tây Thái Lan, kéo dài đến phía Nam nước Lào và đến tận cực Nam bán đảo Malaysia, mà trung tâm là vùng Nam Bộ. Cư dân gồm đa sắc tộc (bên cạnh người bản địa còn có người gốc Mã Lai - Đa Đảo - từ biển vào).
Sau năm 627, Phù Nam bị sáp nhập vào Chân Lạp của người Khmer, Chân Lạp lại phân ra Lục Chân Lạp thuộc vùng trung lưu sông Me Kong và Thủy Chân Lạp, miền hạ lưu. Đến thế kỷ XVII- XVIII, vùng đất xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam đã tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay."
Mình chỉ nói rõ thêm chút.
Chân Lạp từ một chư hầu của Phù Nam đã thôn tính Phù Nam vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất. Cho đến các thế kỷ 7-8 thì Chân Lạp thịnh vượng. Sau đó Chân Lạp bị thu bé dần vì các nhà nước nhỏ tách ra độc lập. Cho đến đầu thiên niên kỷ thứ 2, thì Thái Lan đã thành lập chiếm đóng phần lớn đất của Phù Nam cũ. Thái Lan và Lào đều xưng là hậu duệ của Nam Chiếu-Đại Lý-Ai Lao. Tông tộc còn nghi ngờ, nhưng chắc chắn trước đây thủy tổ của họ không là con cháu cũng là là chư hầu của các nước trên. Mặt khác, vương quốc Ăng Co của Campuchia cũng bị Chiêm Thành tiêu diệt vào thời điểm đạo Phật Nam Tông thối nát, các nước theo đạo Phật này suy yếu vì xây dựng các đền đài cung điện, dần bị đạo Hồi và đạo Ấn Độ xâm chiếm.
Chiêm Thành nhiều lần đánh nhau với Ta và chủ yếu là họ ra cướp của, chắc mọi người còn nhớ Thăng Long thất thủ. Lúc Trần suy yếu, người Chiêm Thành còn ra khai phá cả miền mới bồi Thái Bình. Cũng vì tốc độ bồi ở đất họ chậm hơn ta nên ta tiến nhanh hơn họ và thôn tính họ. Chiêm Thành cũng không ngừng mở rộng, chia ly rồi lại thống nhất. Sau khi đánh Minh, Chiêm Thành vẫn ra quấy ta, rồi xin cầu viện Minh để hai mặt cùng đánh. Năm 1470 Lê Thánh Thông phải ngự giá thân chinh, từ đây Chiêm Thành suy yếu. Phần đất giữa Thạch Bi-Cù Mông lúc này không thuộc các vương quốc Chăm Pa nhưng họ vẫn khai thác, do bên Việt nội loạn. 40 năm sau, Nguyễn Hoàng bắt đầu vào Quảng Trị, đầu tiên ông lấn đất Phú Yên chính là vùng đất trung gian Cù Mông-Thạch Bi. Chúa Nguyễn và các vương triều Chăm Pa giao hảo quan hệ tốt cho đến 165x. 165x Chăm Pa phát binh đánh Nguyễn, thua chạy mất đất từ sông Phan Rang trở ra. 169x thì hai bên đánh nhau to, cũng là Chiêm Thành đánh trước, cả hai bên đều thiệt hại nặng. Sau trận chiến này chúa Nguyện lập ra Trấn Thuận Thành, cho người Chiêm Thành làm vương, cai quản các dân tộc thiểu số Tây Nguyên-Nam Trung Bộ. Đến lúc này thì cái gọi là nước Chiêm Thành còn rất bé nhỏ, lu mờ dần trước các đợt di dân khai hoang vùng châu thổ sông Mê Kông hoang vu rộng lớn. Từ đây, dân Chăm Pa và các dân tộc khác dần dần biên theo tên kiểu Kinh, để vào sổ người Kinh, cùng với người Kinh vốn thạo khai hoang đồng bằng hơn... tiến xuống khai phá Tây Nam Bộ vẫn phần lớn là hoang vu. Thuận Thành bao gồm Ninh Thuận, Bình Thuận Nam Tây Nguyên ngày nay, đơn vị hành chính này tồn tại đến năm 1893 thì thành các tỉnh bình thường.
Biên giới Chân Lạp cũ là Tây Ninh, Bà Rịa, Đồng Nai... còn hất lại phía bắc là đất cũ Chiêm Thành.
Phần lớn các vương triều Chiêm Thành và Chân Lạp đều suy yếu vì nội loạn. Trong khi đó, chúa Nguyễn chủ động kết thân bằng gả con gái cho các vương triều này như chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con cho vua Chiêm Pô Rome (ở ngôi 1627 - 1651). Sau các nội loạn đó, thì chúa Nguyễn bênh vực con cháu của mình, cũng như các vương triều dâng đất đến ơn cứu viện... Những chuyện thâm cung đó diễn ra theo xu thế đương nhiên, khi và các dân tộc này bỏ tên tuổi dân tộc mình để đi theo người Việt khai hoang. Sang thế kỷ 18 thì Chiêm Thành - Chăm Pa còn rất bé. Thậm chí đến nay, về lý thuyết, thì nước Chiêm Thành vẫn còn, được nhà nước ta mỗi năm cấp cho 18 tấn thóc để thờ ấn kiếm. Nếu nói về công lao thôn tính Chiêm Thành thì công đầu là Lê Thánh Tông. Nếu nói về nguyên nhân nước Chiêm Thành biến mất thì đó là nội loạn, trong các cuộc tranh giành quyền lực liên miên họ cướp phá Việt, dẫn đến chiến tranh và suy vong. Còn nếu nói nguyên nhân sâu xa, thì Chiêm Thành bị chặn bởi Chân Lạp, không khai phá được Mê Công, nên không phát triển được như Việt, khi Việt lớn lên cùng châu thổ sông Hồng. Ở góc độ khác, thì các vương triều Chiêm Thành không nhìn thấy tầm quan trọng của mở rộng biên giới xuống đồng bằng, nên họ có đánh được Ăng Co, thì cũng chỉ biết bắt nô lệ và cướp của về xây đền đài cung điện, trình độ làm vua còn thiển cận một trời một vựa so với triều đình Việt.
Với Chân Lạp (Campuchia, Campu là Campuchia còn Campa là Chiêm Thành Chăm Pa). Có thể mô tả thế này qua lịch sử thành phố Hồ Chí Minh. Nhắc lại là, phần lớn Đồng Bằng Nam Bộ là đất hoang, lúc đó phần Chân Lạp nằm trong bản đồ nước ta ngày nay chỉ có có thể kể đến Sài Gòn-Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang. Trong đó An Gianh là ốc đảo cách biệt, chỉ có Sài Gòn-Hồ Chí Minh, Tây Ninh là liền với Chân Lạp. Thủ Đô Chân Lạp là Ou-đông (Oudong) gần Ph-nông-pênh ngày nay. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con cho vua Chân Lạp Chey Chettha II. Từ đây, Chúa Nguyễn xin được đặt một trạm thu thuế ở đất ngày nay là Sài Gòn vì các thuyền buôn Việt thường vào đó buôn bán. Cũng như việc đó là một số người Việt đi theo Hoàng Hậu Chân Lạp làm quan trong triều Chân Lạp. Sau này có nội loạn ở Chân Lạp liên miên, đầu tiên cháu ngoại chúa Nguyễn là Chan Ponhea Sô, là người thừa kế Chey Chettha II, bị giết khi mới ở ngôi 2 năm, chú ruột giết cháu. Sau đó các thế lực tranh nhau ngôi báu này liên miên đến 168x. Vậy nên Chúa Nguyễn nhiều lần theo lời cầu viện can thiệp. Như năm 1658 chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đánh bắt vua Chân Lạp Nặc Ông Chân, vì Nặc Ông Chân lúc đó bỏ quốc giáo theo đạo hồi mất lòng giới chính trị. Hai anh em Nặc Ông Tân và Sô cầu cứu chúa Nguyễn. Sau khi bắt Nặc Ông Chân , chúa Nguyễn lập Sô lấy hiệu Batom Reachea làm vua Chân Lạp. Vì quan hệ này nên Việt-CHân Lạp hữu hảo, người Việt di khai hoang thuận tiện. Sau đó Chey Chetta III giết chết Batom Reachea, em là Nặc Ông Tân lại sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng phái Nặc Ông Chân giết chết Chey Chetta III. Người Xiêm nhân loạn đưa con Batom Reachea là Nặc Ông Đài lên ngôi, chống lại chú và chúa Nguyễn. Nặc ông Tân và Nặc Ông Nộn lại cầu cứu. Sai khi Đài chết, Chúa Nguyễn chia Chân Lạp ra làm đôi, Nặc Ông Thu đóng đô ở Ph-nông-pênh (Nam Vang), Nặc Ông Nộn đóng đô ở Sài Côn (TP Hồ Chí Minh ngày nay). Như thế, Chúa Nguyễn lấy một phần nước Chân Lạp chỉ là lấy phần thâm cung, còn phần tự nhiên thì dân Việt đã đi khai hoang kéo theo cả Chàm lẫn Cam .
Và cái phần lấy được đó thì cũng là một phần nhỏ của cháu ngoại chúa Sãi là Chan Ponhea Sô, đã bị giết sau 2 năm ở ngôi vua Chân Lạp. Thực chất, nếu như Chúa Nguyễn muốn báo thù hay xâm lược đòi đất, thì Chúa đã đánh lấy cả đất Chân Lạp vốn là của cháu ngoại, dựng lên dăm ông vua bù nhìn, chia Chân Lạp ra dăm ba nước, tha hồ. Trong thực tế, chỉ đến gần đây gia tộc Nguyễn mới công bố các vị Hoàng Hậu và cháu ngoại này, khớp với lịch sử Chăm-Chân, vì Chúa Nguyễn không muốn làm như vậy.
Một số vùng cụ thể có thể có lịch sử khác, như Đồng Nai có Cù Lao Phố. Cù lao này do viên tướng Minh Trần Thượng Xuyên không khuất nhà Thanh đem binh lính dưới quyền cùng gia đình đến khai hoang năm 1679. Ban đầu, Xuyên vào đầu hàng nhà Chúa ở Thuận Hóa, sau đó Chúa cho cù lao này để làm ăn, buôn bán rất phát đạt.
Năm 1623, chúa Nguyễn sai một đoàn sứ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Lập đồn thu thuế vì đây là cửa ngõ buôn bán-di cư của người Việt đến các vùng thuộc Xiêm và Chân Lạp. Đây là bước đi quan trọng ngăn sự bành trướng ảnh hưởng của Đông Ấn Hòa Lan, công ty thực dân, mà chủ yếu gây sức ép là Hà Lan và Bồ Đào Nha ở Indonexia và Ma Cao. Đông Ấn Hòa Lan cử đại sứ hòa bình đến Chân Lạp năm 1620, năm 1623 mở thương điếm trên cảng sông gần thủ đô Chân Lạp. Tuy nhiên, sau đó bộ mặt thực dân ăn cướp dần dần lộ rõ. Cho đến năm 1643 Đông Ấn Hòa Lan nhiều lần liên kết với Trịnh ăn cướp giết người ven biển Nguyễn, sau đó bị đánh bại, và không muốn gây ảnh hưởng tiếp ở vùng này. Cũng vì thế mà người Nhật cạnh tranh và nổi lên ở Hội An. Bước đi lập đồn thu thuế này khởi đầu cho Gia Định-Sài Gòn, tránh cho Chân Lạp khỏi kiểu thực dân cướp bóc cực kỳ dã man kiểu Bồ Đào Nha hồi đó. Sau đó như trên, Chúa Nguyễn lập Nặc Ông Nộn là Phó Vương đóng đô ở Sài Gòn.
Đến năm 1698 thì Lễ Hầu Nguyễn Hữu Cảnh lập trấn Gia Định (Tp HCM và các vùng xung quanh). Nửa sau tk17 vùng này đã được khai hoang đông đúc, nên việc thành lập trấn này thuận lợi. Việc lập trấn này đánh dấu chính thức thành lập miền Đông Nam Bộ. Việc thành lập trấn này thuận lợi lại mở đường tiến sâu xuống miền Tây Nam Bộ vốn vẫn hoang vu và ngập nước mùa lũ, khó khai hoang nhất. Phần lớn dân cư đến Tây Nam Bộ trong thế kỷ 18. Từ đó cho đến sau này, các nước Chiêm Thành và Đông Chân Lạp càng ngày càng ít dân theo, dần dần trở thành những triều đình mang tính thờ tự được Chúa Nguyễn cấp đất phong (về sau chính quyền CHXHCNVN quy ra gạo vì Hiến Pháp mới không công nhận đất phong).
Trong thế kỷ 18, khi người Việt khai phá đồng bằng miền Tây Nam Bộ, thì đất này trở nên trù phú, đông dân. Các vương triều Chân Lạp mâu thuẫn đã nhiều lần có ý muốn chén món cỗ ngon mới có đó. Vì vậy, có một số cuộc xung đột lẻ tẻ, đặc biệt là khi có những xúi bẩy các thế lực tranh đoạt trong triều đình Chân Lạp, như Xiêm, Pháp... và các nước khác, để hòng chiếm ngôi vua Chân Lạp. Nhưng bản chất phần phải thuộc về Việt Nam, kể cả là dòng máu Hoàng Tộc cũng như công lao mở đất.
Có thể nói đến sự suy yếu của Chân Lạp thế này. Trình độ sản xuất của họ không cao, nên khi các đồng bằng nổi lên khỏi mặt biển họ không lớn được. Đến nay vẫn không biết đắp đê, trong khi xây xựng đền đài tốn kém. Như thế, trước bị Chăm Pa tàn phá, sau dân bỏ theo dân Kinh...
Có thể nói về sự sát nhập của Chăm-Chân như vậy, dân của họ đã tự nguyện bỏ dân tộc, theo tên Kinh, họ Kinh... Toàn bộ đồng bào đã khai phá được Tây Nam Bộ cho nhiều thóc lúa hơn nhiều lần cả Chân Lạp và Chiêm Thành cũ cộng lại. Và đó là sự phát triển vượt bậc.
Cũng có thể kết luận thế này., nước Việt Nam lớn mạnh bởi vì trình độ làm nông nghiệp, từ giống lúa giống khoai, giống chó giống gà... cho đến trình độ đắp đế trị thủy khai hoang. Cái trình độ đó là sản phẩm của đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống đê vĩ đại. Dân ta không đắp Vạn Lý Trường Thành, không xây Ăng Co, mà đắp đê.
Lịch sử Tây Nam Bộ (từ Sài Gòn về Nam) không phải Việt thôn tính của ai cả. Thực tế, chính là người Việt thôn tính ông trời, tức khai hoang. Trước đó, các vùng có dân ở tại Tây Nam Bộ rất thưa thớt, ví như miền Bảy Núi ở Nam Bộ xa lắc xa lơ như hòn đảo giữa đầm lầy, mùa nước bị cách ly. Các vùng cách ly đó không an toàn và đương nhiên nếu có dân ở cũng rất thưa thớt là lạc hậu. Cho đến nay mùa nước nổi vẫn ngập nước thì dân ở với cá. Không cần đâu xa, chỉ cần nhìn Tây Nam Bộ trước 1975 đủ thấy. Như thế, bản chất của sự việc Việt Nam mở rộng xuống đồng bằng Mê Công Tây Nam Bộ là khai hoang, tăng sản lượng lúa, làm đông dân. Lực lượng khai hoang là người Việt dẫn đầu nhưng số lượng ít, đi theo là đông đảo người Chân Lạp-Chiêm Thành đã đổi họ tên để biên vào sổ người Việt. Những người khai hoang hòa nhập các nhóm dân nhỏ của Chiêm Thành, Chân Lạp và các nhóm dân khác vẫn sống thưa thớt ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Khi mới di cư vào Nam, chúa Nguyễn mang đi rất ít quân dân, thậm chí khi thắng trận với chúa Trịnh, thì chúa Nguyễn Nguyễn phải di dân bốn huyện phía nam đất nhà Trịnh vào Nam. Chính vì thiếu dân như thế nên các Nguyễn đồng hóa dân bản địa Chiêm Thành-Chân Lạp bằng cách đổi họ tên sang họ tên Việt, biên chữ Hán-Việt, để tăng nhanh dân số khai hoang (ví như họ Nguyễn để biên dân Chiêm hay họ Thạch để biên dân Khơ-me). Các giống dân này vốn sống trong các điều kiện khắc nghiệt, như các đồng bằng miền Trung hay vùng ngập nước Mê Kông, khi tiếp xúc với trình độ quai đê lấn biển của người Việt đã tự nguyện đi theo. Từ đó đồng bào anh em đã khai thác được vùng đồng bằng trù phú nhất nước trong các thế kỷ 17-18-19, mà trước đây hầu như bỏ hoang.
Việc lấn biển thực hiện y như chúng ta đã tiến từ Phú Thọ đến Thái Bình. Ban đầu dân Chiêm Thành Chân Lạp sống trong những chân núi như Phú Thọ 4 ngàn năm trước, hay một số đảo nổi cao lên giữa sông biển như vùng Đông Bắc Thái Bình 2 ngàn năm trước. Người Việt ban đầu cũng thích dịnh cư ở các vùng cửa sông hiếm khi bị lũ mùa. Từ đây, cùng với người Việt, đồng bào anh em đắp các đê nhỏ như bờ vùng bờ thử, giữ đất bồi, dần dần lấn hết đồng bằng.
4:11 . Cái clip kia cũng đánh đồng công mở đất của các Chúa Nguyễn và đám vua Nguyễn bán nước khởi đầu từ Nguyễn Ánh "công của 13 vua triều nguyễn". Có lẽ cái clip đó và ông Dương Trung Quốc, ông Lê Văn Lan muôn phong anh hùng mở đất cho những Bảo Đại, Khải Định, Nguyễn Ánh...
Từ sau khi Lê Lợi khởi nghĩ, đến Lê Thánh Tông dẹp các mầm phản loạn bên Lào, sát nhật Bồn Man, thì chúng ta và Lào quan hệ hữu hảo. Điều này cạnh tranh với Xiêm. Xiêm đã nhiều lần gây chiến tranh với các nước Lào, Chân Lạp, cũng như ủng hộ các phe phái chống ta ở đó. Nhưng bán nước Lào lớn nhất là Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh đã nhờ Pháp và XIêm , tranh thủ lúc Tây Sơn có nội loạn đánh úp, tiêu diệt tận gốc rễ các thế lực yêu nước và tiến bộ, làm thui chọt dòng máu anh hùng, sau đó bế quan tỏa cảng làm đất nước lạc hậu. Từ lúc mới thành lập, nhà Nguyễn liên miên bị khởi nghĩa và nhanh chóng mất nước vào thay thực dân. Với Lào, để trả ơn Xiêm, Nguyễn Anh đã bật đèn xanh cho Xiêm đanh chiếm hơn một nửa nước, phần trù phú nhất của Lào, ở bên kia bờ tây sông Mê Công. Nước Lào ngày nay chỉ còn là phần núi non hiểm trở nhỏ bé. Cuộc chiến tranh này đã tàn phá tan nát nước Lào, hàng trăm ngàn nô lệ bị bắt về Thái Lan cùng với những bảo vật và vàng bạc châu báu. Sau đó, một số bộ tộc Lào đầu hàng Nguyễn để mong nương nhờ, Nguyễn nhân đó chiếm đất giết chủ (tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội, Minh Mệnh, Đại Việt Địa Dư Toàn Biên Nguyễn Văn Siêu).
Sau khi Pháp chiếm Việt Nam, thì phần đất đổi cho Tầu lấy quyền làm đường sắt ở Hà Giang và Tụ Long chỉ là nhỏ. Phần đất lớn nhất mà chúng ta mất là Trấn Biên, Trấn Ninh....(tránh nhầm vì wiki, cái bản đồ tronglink này là bố láo khếch đại, thực chất đất của ta chỉ ven sông núi Trường Sơn, không đến mức ăn hết cả bờ sông Mê Công vùng Trung Lào , ăn cả Viên Chăn. Dễ nhận thấy, bản đồ này là bản đồ sau hiệp định Geneva năm 1954 với vùng đệm phi quân sự vĩ tuyến 17, được điền thêm các tên cổ vào, và gọi là bản đồ thế kỷ 19).
Pháp chia Lào-Việt theo đường sống núi để tiện quản lý, như thế toàn bộ Tây Trường Sơn của ta cắt cho Lào. Vùng này khá lớn bao gồm hầu hết Nam Lào. Hai vùng lớn nhất là Trấn Ninh và Trấn Biên. Trấn Biên là cái mồm Thanh Hóa-Sơn La, còn Trấn Ninh là phía Tây Trường Sơn kéo từ Nghệ An vào Quảng Bình. Ngoài ra còn một số đơn vị hành chính nữa nằm ven Trường Sơn.
Rõ ràng là, chúng ta gánh vác vai trò chủ lực trong kháng chiến, nhưng chúng ta đã không hề có một chút ý định xác lập lại bản đồ của cha ông từ thời Lê Thánh Tông.
Đó là vắn tắt về 13 vua nhà Nguyễn, họ đã làm Việt Nam mất diện tích Tây Trường Sơn lớn hơn cả đồng bằng Bắc Bộ, làm bạn Lào mất phần lớn lãnh thổ và dân số, đó là ngày nay. Các vua Nguyễn làm đất nước ta nô lệ lầm than 80 năm và kết thúc bằng nạn đói và hai cuộc chiến tranh. Đó là công lao của các vua Nguyễn mà Dương Trung Quốc và đám ranh con muốn la liếm.
Mình nhắc lại là, toàn bộ clip không có đoạn nào là không xuyên tạc. Xuyên tạc vô ý thức thì chỉ là clip nhảm nhí đầy trên mạng. Nhưng đây là clip xuyên tạc vu khống Việt Nam xâm lược. Điều vu khống nhậy cảm trong trình trạng tranh chấp biển đảo đang gia tăng, là clip dám bẻ ngược 180 độ lịch sử, vu không chúng ta dựa thế Pháp xâm lược Điện Biên Lai Châu của Tầu Khựa theo hiệp ước 1897. Trong thực tế ngược lại, theo hiệp ước này chúng ta mất mỏ đồng Tụ Long và 10 xã biên giới Quảng Ninh, mất cả con sông mà người Tầu gọi là An Nam Giang.
Một clip như thế tung lên mạng lúc này không bị ném đá là điều lạ. Điều thần kỳ đó chỉ có thể có được bởi Dương Trung Quốc, Lê Văn Lan...
Nguyễn Mạnh Hùng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét